Doanh nghiệp sẽ sử dụng quyền của mình theo Luật Hải quan năm 2014 đến đâu trong bối cảnh còn nhiều vấn đề không dễ giải quyết kiểu một với một bằng hai?
Thực hiện hải quan điện tử tại cảng Cát Lái
Luật Hải quan vừa được Quốc hội thông qua năm 2014, có hiệu lực từ năm 2015, đã mở ra rất nhiều quyền cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ việc ngồi nhà khai báo, thực hiện hải quan điện tử cho đến quyền khiếu nại, yêu cầu cơ quan hải quan chịu trách nhiệm, bồi thường cho những thiệt hại xảy ra khi đòi hỏi, nghi vấn của cơ quan này không chính xác...

Quyền đã trao...

Luật Hải quan năm 2014 đã đơn giản hóa được 41 và cắt giảm được 14 bộ thủ tục hành chính. Mọi hoạt động đều thông qua phương thức điện tử. Quan trọng hơn, luật đã có những thay đổi quan trọng, trao nhiều quyền cho doanh nghiệp.

Thứ nhất, từ ngày 1/4/2015 (thời hạn Thông tư 38/2015/TT-BTC có hiệu lực), các doanh nghiệp khu chế xuất thực hiện sản xuất - xuất khẩu và gia công không phải đăng ký định mức nguyên phụ liệu và không cần từng tờ khai, sẽ không còn cảnh mang từng chồng hồ sơ lên quyết toán với cơ quan hải quan như lâu nay mà quyết toán theo năm. Để quản lý, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra hàng năm và sẽ phạt rất nặng, thậm chí buộc ngừng hoạt động sản xuất - xuất khẩu và gia công những doanh nghiệp gian lận về số lượng.

Thứ hai, doanh nghiệp sẽ được phân loại theo tiêu chí: doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp tuân thủ và doanh nghiệp không tuân thủ. Đây là một cơ sở để phân luồng hàng hóa. Theo đó, doanh nghiệp ưu tiên sẽ được miễn kiểm tra chứng từ liên quan thuộc hồ sơ hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa trong quá trình thực hiện thủ tục; được làm thủ tục hải quan bằng tờ khai chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai và được bổ sung trong vòng 30 ngày sau đó; được cơ quan hải quan và các cơ quan kinh doanh cảng, kho bãi ưu tiên làm thủ tục giao nhận hàng hóa trước, ưu tiên kiểm tra giám sát trước...

 Thứ ba, doanh nghiệp được đăng ký xác định trước xuất xứ, mã số và trị giá hàng hóa với cơ quan hải quan. Khi đã đăng ký thành công thì hàng hóa đó sẽ được chấp nhận trước trong vòng ba năm để tính thuế. Doanh nghiệp cũng không cần xuất trình trước văn bản xác nhận mà chỉ cần khai báo trong tờ khai. Cán bộ hải quan ở cấp chi cục không được yêu cầu doanh nghiệp cung cấp giấy chứng nhận đăng ký mà phải tự tìm trên hệ thống.

Thứ tư, về giá tính thuế, nếu cơ quan hải quan có nghi vấn về giá hàng nhập khẩu đã thanh toán để tính thuế thuộc các lô hàng được phân luồng vàng, đỏ thì doanh nghiệp được phép từ chối mọi nghi vấn tại khâu trong thông quan, thực hiện nộp thuế theo khai báo ban đầu. Cơ quan hải quan chỉ được phép kiểm tra ở khâu sau thông quan. Việc của doanh nghiệp là phải lưu trữ hồ sơ cẩn thận vì làm mất chứng từ sẽ bị truy thu thuế.

Thứ năm, việc phân loại hàng hóa (để áp thuế) được quy định tại biểu thuế. Tuy nhiên, có những mặt hàng áp được cả với chương này lẫn chương kia. Trong trường hợp có tranh chấp, cơ quan hải quan yêu cầu đi phân tích thì doanh nghiệp phải thực hiện. Nếu kết quả đúng như khai báo của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được yêu cầu hải quan bồi thường các chi phí phát sinh như lưu kho, lưu bãi... Ngược lại, kết quả đúng như cơ quan hải quan nghi ngờ thì doanh nghiệp phải nộp thuế bổ sung.

Thứ sáu, về xuất xứ hàng hóa (C/O), nếu chưa có tại thời điểm đăng ký tờ khai, doanh nghiệp khai báo theo mức thuế ưu đãi mà không cần có công văn nợ C/O như trước đây. Khi có thì mang bản chính lên bổ sung để được tính lại thuế và được hoàn thuế dư, hoàn thuế giá trị gia tăng. Việc hoàn thuế cũng do chính cơ quan hải quan thực hiện, không cần chuyển về cơ quan thuế địa phương. Bên cạnh đó, khi xét miễn thuế, hoàn thuế, doanh nghiệp không cần nộp tờ khai mà đây là việc của công chức hải quan. Doanh nghiệp chỉ cần nộp công văn đề nghị với lô hàng cụ thể. Cơ quan hải quan sẽ đến kiểm tra trước tại doanh nghiệp rồi mới ra quyết định hoàn thuế.

Doanh nghiệp có sử dụng?

Ông Đinh Công Khương, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Thép Khương Mai, chuyên nhập khẩu thép, người từng chia sẻ là công ty mình liên tục bị áp giá tính thuế cao hơn giá thanh toán, bị cán bộ hải quan đặt vấn đề chi tiền... nói rằng, vấn đề nằm ở chỗ người thực thi chính sách là các công chức hải quan tại các cảng (chi cục). Những người này thường “soi” những sơ suất nhỏ của doanh nghiệp trong hồ sơ giấy tờ để kiếm lợi cho cá nhân.

Theo ông Khương, doanh nghiệp sẽ chọn cách hài hòa chứ khó lòng có thể rạch ròi, phân định giữa dùng quyền hay không dùng quyền, chống tiêu cực hay thỏa hiệp. Mọi thứ đều có giới hạn nhất định, nếu trong ngưỡng chịu đựng thì doanh nghiệp sẽ chấp nhận. “Còn với những đòi hỏi quá đáng, lên tới vài chục triệu đồng mà hàng thì chưa về, cộng với lỗ lã nữa... thì không thể chấp nhận”, ông Khương thẳng thắn.

Cũng theo ông Khương, cách của doanh nghiệp lâu nay khi gặp chuyện nhũng nhiễu khó chấp nhận là lên gặp cấp trên trực tiếp để được giải quyết. Cách này đang phát huy hiệu quả khá tốt.

Ông L.T.N., Phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu NKC, thì nhìn nhận mọi chuyện không đơn giản như những câu chữ của luật. Theo ông, trước Luật Hải quan năm 2014 này cũng đã có những quy định về việc công chức hải quan không được làm cái này, được làm cái kia và doanh nghiệp có quyền yêu cầu, bác bỏ, khiếu nại (ví dụ thời gian thông quan hàng hóa kéo dài, tờ khai bị treo trên hệ thống...). Tuy nhiên, mọi thứ không áp dụng được vào trong thực tế vì trăm ngàn lý do có trong luật và không có trong luật. Kết quả là doanh nghiệp cứ phải lót tay để mọi thứ được nhanh chóng, suôn sẻ, kiểu như để có xác nhận tờ khai ngay, để cán bộ ký hồ sơ sớm mà không phải chờ hàng giờ vì... “bận họp”. “Đó là trường hợp hàng của mình bình thường, không có vấn đề gì đấy. Có vấn đề thì lại khác nữa”, ông N. nói.

Vì vậy, theo cả ông Khương và ông N., giải pháp mấu chốt là công tác giám sát công chức, cán bộ ngành hải quan trong việc tuân thủ quy định pháp luật, kỷ luật ngành cũng như xử lý người trong nội bộ vi phạm. Tất nhiên, việc này không dễ và cần thời gian dài.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quốc Toản, Phó trưởng phòng Phòng Thuế xuất nhập khẩu, Cục Hải quan TPHCM, cho rằng đồng thời với sự đổi mới về chính sách quản lý hải quan, việc quan trọng không kém là các doanh nghiệp cũng phải thay đổi. Đó không chỉ là tuân thủ quy định chịu trách nhiệm mọi lời khai mà còn phải nắm chắc quy định pháp luật. “Bây giờ nếu không biết sẽ là một bất lợi. Biết thì mới có cơ sở để lập luận lại, để từ đó triệt tiêu tình trạng cán bộ hải quan nhũng nhiễu, tiêu cực”, ông Toản nhấn mạnh.

Theo ông Toản, ngành hải quan nói chung và Cục Hải quan TPHCM nói riêng không có chủ trương để cán bộ công chức tiêu cực. Vì vậy, doanh nghiệp cần thực hiện quyền của mình cũng như tố cáo để cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh bị xử lý.

Một lãnh đạo cấp phòng của một cục hải quan phía Nam đánh giá, với những quyền được trao rõ ràng như hiện nay, doanh nghiệp sẽ dần không thỏa hiệp với tiêu cực. Tuy nhiên, đồng thời với quyền thì doanh nghiệp cũng có rất nhiều nghĩa vụ cần thực hiện. Trong đó, tiên quyết là chất lượng hàng hóa phải đảm bảo các quy chuẩn, tiêu chuẩn.

Minh Tâm
Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn