(Chinhphu.vn) - GS.TS Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, trong loạt bài đăng trên báo Đại Đoàn kết, đã bác bỏ những "chứng cứ” được Trung Quốc viện dẫn để "chứng minh” chủ quyền của họ từ cách đây 2000 năm trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Báo Điện tử Chính phủ xin giới thiệu với bạn đọc.
Bài 2: “Trung Hoa mộng” vẽ lên đường lưỡi bò

Bắt đầu từ khi chính quyền Tưởng Giới Thạch sắp thua ở Trung Quốc Đại lục, khoảng năm 1947-1948 chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã rất chú ý đến việc tập hợp, in ấn tư liệu chuẩn bị cho giấc mộng bành trướng. Có thể nói thời điểm họ bắt đầu có ý thức, có thể hiện ảnh hưởng của họ xuống phía Nam là tháng 2 năm 1948, Trung Hoa Dân Quốc cho xuất bản một bộ bản đồ có tên là Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải. Đấy là bộ bản đồ đầu tiên xuất hiện đường lưỡi bò. 

Vậy đường lưỡi bò này ở đâu ra? 

Bản đồ do J. L. Taberd vẽ năm 1838, trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa là "Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng). Phần chú thích đã được khoanh tròn.

Bây giờ cũng không biết cái đường lưỡi bò ấy có từ bao giờ, nhưng nhìn vào bản đồ có in đường lưỡi bò vẽ tay ấy thì người ta tính niên đại nó không thể sớm hơn 1920. Bản đồ vẽ tay này không có tác giả, do một ai đó vẽ vu vơ. Khi họ tìm thấy bản vẽ tay này trong kho bản đồ, giở ra thấy có đường lưỡi bò thỏa mãn tâm lý bành trướng của họ, nên họ cho in thành bản đồ chính thức vào năm 1948 – một niên đại rất muộn so với những bản đồ của Việt Nam, của phương Tây mà Hoàng Sa đã xuất hiện với tên gọi Bãi cát vàng.  

Nhân đây để nói thêm, tất cả các bản đồ trước năm 1948 của Trung Quốc,  không có bộ bản đồ nào, kể cả của người nước ngoài vẽ lẫn của Trung Quốc tự vẽ lại có Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa) và Hoàng Sa (mà họ gọi là Tam Sa) xuất hiện với tư cách là địa dư của Trung Quốc cả, mà đều khẳng định đến Hải Nam là hết. Sau bản đồ năm 1948, đường lưỡi bò tiếp tục được đưa vào các bản đồ khác nhưng lưu ý là bản đồ in lần đầu năm 1948 đường lưỡi bò lúc đầu là 11 đoạn chứ không phải 9 đoạn bởi vì người ta vẽ hoàn toàn ngẫu hứng mà. Ai đó vô danh vẽ bằng tay một đường lưỡi bò 11 đoạn, ôm trọn cả Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Đến 1953, CHND Trung Hoa lại in bản đồ đó một lần nữa và thấy quá vô lý thì bỏ 2 đoạn đi thành 9 đoạn nên nó cụt. Có thể nói rằng người Trung Quốc bắt đầu dấy lên tham vọng đối với Hoàng Sa là thời kỳ giải quyết những vấn đề sau chiến tranh Thế giới thứ 2. Chúng ta nhớ chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng về phía đồng minh, Hoàng Sa thì đang bị chiếm bởi quân Nhật một thời gian rồi. Khi đó quân Nhật thua rút chạy, quân Tưởng tiếp quản và đề nghị sẽ là bên được giữ Hoàng Sa tại Hội nghị San Francisco năm 1951. Chúng ta nhớ năm 1948 Trung Hoa Dân Quốc vẽ bản đồ lưỡi bò, năm 1951 họ phải chạy ra ngoài đảo Đài Loan rồi, nhưng vẫn là thành viên Liên Hợp Quốc nên vẫn tham gia hoạt động quốc tế. Nhưng tại Hội nghị San Francisco năm 1951 ấy, Thủ tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại cực lực phản đối đề nghị của chính quyền Tưởng Giới Thạch và tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Kết quả là 48/51 đại biểu tại Hội nghị đã bỏ phiếu đồng ý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Điều này đã được lưu trong văn kiện rất quan trọng của Hội nghị San Francisco năm 1951 giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Trung Quốc không có cơ hội giành nó về mặt pháp lý. 

Trong thế kỷ 20, để chứng minh cho "đường lưỡi bò”, các học giả Trung Quốc viện dẫn lại câu chuyện Đô đốc nhà Thanh là Lý Chuẩn đưa quân ra một hòn đảo ở phương Nam và kéo cờ, bắn pháo vào năm 1909 và coi đó là mốc thời gian xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này. Sự kiện này không có ý nghĩa vì thời điểm diễn ra vào đầu thế kỷ XX, khi mà Việt Nam đã có rất nhiều tư liệu khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đó nhiều thế kỷ. Vả lại, chính việc đề cao sự kiện "Lý Chuẩn” này tự nó lại phản bác những lập luận mà các học giả Trung Quốc phải dày công xây dựng tư liệu để "chứng minh” Tây Sa và Nam Sa đã được người Trung Quốc phát hiện và sở hữu từ thời Hán, cách ngày nay tới vài ngàn năm như bài trước chúng ta đã đề cập tới.

Năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ngay sau đó, chính quyền Trung Quốc đã cử một đoàn nghiên cứu lịch sử, khảo cổ trong đó có GS. Hàn Chấn Hoa ra khảo sát một số đảo. Trong công trình do mình chủ biên, ông Hàn Chấn Hoa đã đề cập tới ngôi chùa có tên Hoàng Sa tự trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm theo tên của Việt Nam). Họ mừng rỡ vì tên chùa và các câu đối viết bằng chữ Hán, nên cho đó là do người Trung Quốc xây chùa. Nhưng dựa vào những ghi chép trong bộ Đại Nam thực lục chính biên, có thể biết ngôi chùa này đã được Vua Minh Mệnh ra lệnh xây theo đề nghị của Bộ Công và tỉnh Quảng Ngãi. Người được giao phụ trách công việc này là cai đội Phạm Văn Nguyên. Lính và dân phu hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi đã chuyên chở vật liệu từ đất liền ra xây.

Sau năm 1974, Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh việc tuyên truyền, các biện pháp ngoại giao và gia tăng sức ép quân sự để đơn phương khẳng định chủ quyền của mình không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn với cả phần lớn Biển Đông thông qua yêu sách đường 9 đoạn. Trong khi đó thì tới tận cuối thế kỷ 19, vẫn còn những văn bản lưu giữ cho thấy, khi có tàu bè đi qua vùng Biển Đông, bị đắm hoặc bị cướp bóc, các thuyền trưởng nước ngoài đến gặp các quan chức ở đảo Hải Nam nhờ giúp đỡ hoặc xác nhận để mang về báo cáo với chủ hàng đã bị từ chối thẳng thừng vì cho rằng đó không thuộc phạm vi địa lý của họ. Ví dụ, trong khoảng thời gian hai năm 1895 – 1896 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa liên tục xảy ra hai vụ đắm tàu. Một của Đức, con tàu mang tên Bellona và một của Nhật, tàu Imegi Maru. Cả hai tàu này đều mua bảo hiểm của Anh nên khi nghe tin dân Trung Quốc thừa cơ tàu bị nạn đã ra cướp bóc, công ty bảo hiểm và đại diện Chính phủ Anh ở Trung Quốc đã yêu cầu phía Trung Quốc phải có trách nhiệm, nhưng họ đã từ chối với lý do: "…các đảo Paracels … không thuộc Trung Quốc… chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ quận nào của Hải Nam …”. Như vậy là nhà đương cục Hải Nam "vô can” với hậu quả của vụ cướp bóc. Hoặc một ví dụ khác là vào thời nhà Thanh, có một chiếc tàu Pháp chở đồng đi qua vùng biển Hoàng Sa thì gặp cướp biển, bị cướp sạch. Viên thuyền trưởng đưa tàu chạy đến cảng gần nhất là Du Lâm ở đảo Hải Nam, trình báo với quan chức địa phương.Viên quan địa phương đó nói với thuyền trưởng rằng: "Nơi chúng ta đứng đây có tên là Thiên Nhai Hải Giác (chân trời góc biển). Đất của Thiên triều đến đây là hết rồi”. Thế rồi tống cổ vị thuyền trưởng bị cướp ra khỏi nha môn. 

Không hiểu sao nhóm nghiên cứu của ông Hàn Chấn Hoa không lấy đó là "chứng cứ” rằng cho tới tận thời nhà Thanh, chính quyền đâu có thừa nhận "Tây Sa” là của họ!

Tóm lại, đường 9 đoạn đang được dùng như một "căn cứ không thể chối cãi” nhưng nó phi lý, phản khoa học. Những phần "chứng cứ” của Trung Quốc được dẫn ra trong suốt cả mấy nghìn năm trước lẫn trong thế kỷ 20 đều chỉ có vậy thôi, lý lẽ khoa học cũng không có gì mới, chủ yếu vẫn chỉ là những tuyên bố theo kiểu "Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi”.

Đại Đoàn kết (ngày 6/6/2014)