(Chinhphu.vn) - GS.TS Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, trong loạt bài đăng trên báo Đại Đoàn kết, đã bác bỏ những "chứng cứ” được Trung Quốc viện dẫn để "chứng minh” chủ quyền của họ từ cách đây 2000 năm trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Báo Điện tử Chính phủ xin giới thiệu với bạn đọc.
Bài 1: Quận Nhật Nam thời Tây Hán và những trích dẫn vu vơ
Tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Trung Quốc đã lẳng lặng chuẩn bị cho công cuộc độc chiếm Biển Đông từ lâu, khi họ tiến hành hành động trên thực tế, thì họ đã tung ra rất nhiều thứ đã chuẩn bị. Trong đó có việc nghiên cứu những cơ sở khoa học và pháp lý cho việc khẳng định chủ quyền của họ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa).

Những "chứng cứ” từ hơn 2000 năm trước

Cái mà họ lẳng lặng chuẩn bị là như thế nào? Tôi được biết là trường Đại học Hạ Môn đã được giao nhiệm vụ này. Có một giáo sư tên là Hàn Chấn Hoa, tập hợp một lực lượng khá đông, được cấp kinh phí khá lớn, có nhiệm vụ tìm quét tất cả các tư liệu có lợi cho họ hoặc tìm cách diễn giải có lợi cho họ. Tất cả những tập hợp, phân tích, giải thích được thể hiện cho một cuốn sách được tái bản đi tái bản lại nhiều lần là: Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên (Tập hợp các sử liệu về các đảo ở vùng biển phía nam). Có thể coi đấy là một cuốn sách, cho đến nay, chưa có một tập hợp nào lớn hơn thế, đầy đủ hơn thế. Sở dĩ Bộ Ngoại giao Trung Quốc cứ nói "chúng tôi có đầy đủ chứng cớ xác đáng về chủ quyền ở Tây Sa, Nam Sa” là đều căn cứ từ cuốn sách của GS Hàn Chấn Hoa này. 

Họ chuẩn bị rất kỹ từ lâu rồi, nhưng trong cuộc họp báo quốc tế gần đây họ mới bắt đầu đưa ra lập luận: Chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có từ thời Tây Hán, tức là từ trước Công nguyên. Vì sao? Thì họ đưa ra một sự kiện lịch sử: Năm 111 trước Công nguyên, tức là cách đây hơn 2000 năm, quân nhà Hán có tràn xuống phương Nam đánh tan quân họ Triệu. Nhà Triệu lúc đó chỉ đóng ở phía Bắc từ đèo Ngang trở ra, nhưng khi thắng nhà Triệu quân nhà Hán đã vượt qua đèo Ngang tiến sâu vào Bắc Trung bộ, lập ra một quận tên là Nhật Nam thuộc nhà Hán (tương đương với vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi bây giờ). Như vậy căn cứ vào đó họ nói xuôi ngược cả vùng biển xung quanh đó của quận Nhật Nam thuộc nhà Hán, tồn tại trong một thời gian khoảng 3 thế kỷ, từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 192 sau Công nguyên. Họ cho rằng trong 300 năm vùng đất và vùng biển ấy là của họ, nên họ rêu rao 2 quần đảo đó là của họ, họ lấy lại thôi.

Đến thời Đông Hán (sau Công nguyên), cuốn sách sớm nhất nhất được các học giả Trung Quốc dẫn ra làm căn cứ về "chủ quyền” của Trung Quốc trên hai quần đảo là Dị vật chí (ghi chép về những vật lạ) của Dương Phù. Như tên gọi cuốn Dị vật chí chỉ ghi lại những chuyện lạ, nghe thấy, nghe đồn, nghe kể…Trong đó có những câu được nhóm nghiên cứu của Hàn Chấn Hoa dẫn ra: "Trướng hải kỳ đầu thủy thiển nhi đa từ thạch…” (có nghĩa là: Biển sóng triều dâng gập ghềnh đá ngầm, nước cạn mà nhiều đá nam châm…). Nhưng giới nghiên cứu Trung Quốc lại giải thích rằng "Trướng hải” là tên gọi Biển Đông của người Trung Quốc thời đó và vùng đá ngầm dưới có từ tính nam châm là chỉ hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Tài liệu này được dẫn lại ở rất nhiều nơi, đăng trên cả trang thông tin của Bộ Ngoại giao Trung Quốc với lập luận hai quần đảo này do người dân Trung Quốc phát hiện và đặt tên sớm nhất (từ thời Đông Hán).

Để củng cố thêm cho lập luận này, Hàn Chấn Hoa và các tác giả sách Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên còn trích ra nhiều câu khác trong sách cổ thời Tam quốc, thời Tùy, thời Đường như Phù Nam truyện của Khang Thái, Ngô lục của Trương Bột, Nhĩ nhã của Quách Phác… nói việc người thời ấy đã viết trong Trướng hải (tên Biển Đông theo cách gọi của người Trung Quốc) có san hô, có đồi mồi, có ốc lớn bằng cái đấu, vỏ có thể dùng để uống rượu…để suy diễn xa hơn rằng trong sách của mình, Quách Phác đã chú thích vùng biển nói tới ở đây là vùng biển thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi), rằng người Trung Quốc thời ấy đã biết đến hai quần đảo.

Về lịch sử từ năm 960 - thời kỳ nhà Tống thống nhất toàn cõi Trung Hoa, nhóm Hàn Chấn Hoa đưa ra những câu trích có nhắc đến hai quần đảo Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Ðường và bảo đó là những tên gọi khác về Tây Sa và Nam Sa của người Trung Quốc. Hai quần đảo này xuất hiện trong các hải trình, được mô tả trong các sách của tác giả Trung Quốc, nhưng nói về nước ngoài, hoặc liên quan đến nước ngoài (không phải Trung Quốc) như Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát…

Chủ quan, lắp ghép, cắt xén, vu vơ 

Bây giờ tôi sẽ phân tích từng thứ mà Trung Quốc gọi là "chứng cứ” ở trên để thấy chúng hoàn toàn không có giá trị gì về việc thực thi chủ quyền.

Thứ nhất, về thời xa nhất là quận Nhật Nam thời Tây Hán mà nhà Hán đã lập lên khi xâm chiếm vùng đất ấy trong vòng 300 năm. Nếu dựa vào đó mà kết luận chủ quyền thì hết sức "bậy” ở  chỗ: Thế ngày xưa đất nước Trung Hoa bị quân Mông Cổ chiếm, thì bây giờ đem cả đất Trung Quốc đi trả cho Mông Cổ à? Nhà Nguyên cai trị Trung Hoa hàng trăm năm, suốt một thời gian dài như thế, bây giờ không lẽ nước CHND Mông Cổ cũng đòi phải xác lập chủ quyền. Chưa kể về mặt Công ước quốc tế thì rất sai: Nếu nhà Hán chiếm vùng đất ấy một mạch từ năm 111 trước công nguyên đến nay thì đã đành. Đây đến năm 192 sau Công nguyên đã phải bỏ chạy rồi, người ta đã giành lại độc lập rồi, vậy mà 2000 năm sau lại nhắc lại cái việc đã dùng vũ lực xâm chiếm được một thời gian để bảo là chủ quyền thì hết sức vớ vẩn. Làm gì có việc thực thi chủ quyền liên tục, cho dù đã từng cai trị khoảng 300 năm nhưng sau đó bị đánh đuổi, và 2000 năm nay có bén mảng tới đó đâu, cho nên chữ liên tục không có. Vì thế việc nói Trung Quốc có chủ quyền đối với 2 quần đảo từ thời Tây Hán là nói vu vơ. Lý lẽ này hoàn toàn có thể bác bỏ.

Thứ hai, là về những câu trích dẫn trong sách Dị vật chí và nhiều sách khác từ thời Đông Hán trở đi. Thực ra đó chỉ là những ghi chép về các hiện tượng mà các tác giả đương thời cho là hay, là lạ (dị vật), chứ hoàn toàn không có ý nghĩa gì về việc phát hiện, đặt tên đảo nên không thể coi là chứng lý về chủ quyền và càng không phải là bằng chứng của việc chính quyền thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Các sách này chỉ chứng tỏ "chúng tôi đã trông thấy, chúng tôi đã nghe…” dẫn lại chuyện ai đó trông thấy, hoặc sách của Trung Quốc đã chép ở chỗ nọ chỗ kia... chứ chưa có một dòng nào, chữ nào nói về việc thực thi chủ quyền. Bản thân chữ "Dị vật” đã là đồ lạ, hay "Lĩnh ngoại” là ngoài biên giới Trung Quốc, "Chư phiên” là các nước mà Trung Quốc coi là chư hầu, đã không phải là những cuốn sách có tính chính danh. Do vậy, những mô tả về biển đảo hoặc hải trình đi tới các nước các nước như Giao Chỉ, Chiêm Thành, Chân Lạp thì tên các quần đảo Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc cho là Tây Sa và Nam Sa) được nhắc đến để chỉ vị trí hoàn toàn không có ý nghĩa nào trong việc xác định chủ quyền của Trung Quốc. Đấy là chưa kể từ ngữ dùng trong các sách này cho thấy tác giả cũng chỉ nghe truyền lại, chứ không biết đích xác ra sao. Có thể dẫn ra đây một vài đoạn trích mô tả vị thế xung quanh đảo Hải Nam mà Hàn Chấn Hoa sử dụng để khẳng định sách Chư phiên chí nói 2 quần đảo này là của Trung Quốc: "Nam đối diện với Chiêm Thành, phía tây nhìn sang Chân Lạp, đông thì Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường, xa xôi không bờ, trời nước một màu.” Hay một đoạn trích khác: "Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u.”

Nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những phân tích xác đáng và đều nhận định khá thống nhất rằng kiểu cách tập hợp, trích dẫn và giải thích sử liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa không theo các nguyên tắc khoa học mà có dụng ý chủ quan, cắt xén, lắp ghép tùy tiện và giải thích gượng ép. Có thể nói luận lý của các học giả Trung Quốc về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo có từ thời Đông Hán là phi lý, phản khoa học.

Đại Đoàn kết (ngày 5/6/2014)