(Chinhphu.vn) - Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914-1/1/2014), Báo Điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của nguyên Trưởng Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương Hữu Thọ về những ngày ông được sống và làm việc với một trong những người học trò xuất sắc của Bác Hồ.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cùng ra đồng cấy lúa với xã viên hợp tác xã Chiến Thắng xã Lý Ninh (1/1962). Ảnh tư liệu.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một nhà lãnh đạo, một vị tướng giản dị, luôn sâu sát với cơ sở, thương dân, hương lính. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi ông đi vào cõi vĩnh hằng, song những ký ức về những ngày được sống và làm việc với ông vẫn vẹn nguyên trong tâm trí của tôi.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đang là chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn 50, tôi được Bộ Tư lệnh Tả ngạn sông Hồng điều động về công tác tại Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh, sau đó Khu ủy bổ sung cho Khu tập kết 300 ngày theo Hiệp định Geneva rồi biệt phái tham gia Ban Thường vụ Thị ủy Hải Dương tiếp quản thị xã. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tôi lại được điều động lên công tác ở Báo Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng.

Về đây tôi được phân công theo dõi, viết bài về nông nghiệp, có bài viết thất bại, có bài thành công, nhưng được các bạn đồng nghiệp và độc giả ghi nhận về sự xông xáo trong thực tiễn.

Khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam được điều động sang phụ trách nông nghiệp, là mặt trận kinh tế hàng đầu lúc đó, thì tôi hay được theo anh đi đến các cơ sở để nghiên cứu tình hình. Anh Phan Quang và tôi là hai nhà báo được giúp việc anh; anh Phan Quang thì đã từng làm việc với anh từ thời kỳ Bình-Trị-Thiên, Khu 4, còn tôi là người mới được tiếp xúc với anh nhưng đã có ấn tượng sâu sắc về anh ngay từ trong cuộc kháng chiến.

Hoạt động ở vùng sau lưng địch, lại chỉ là cán bộ sơ cấp, không có điều kiện hiểu tình hình cả nước, nhưng chúng tôi luôn luôn hướng về Việt Bắc nơi có Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ, Tổng hành dinh của Bộ Tổng Tư lệnh, muốn biết về mảnh đất thần thánh, căn cứ địa và những chuyện sinh hoạt của Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo. Do đó, có cán bộ nào từ Trung ương, Liên khu vào công tác là chúng tôi đều tìm cách khai thác, bắt các anh chị kể cho nghe chuyện. Những buổi tụ tập đó thực sự là những buổi sinh hoạt rất lý thú.

Có nhiều chuyện được nghe kể lại, trong số đó có đồng chí đã kể cho nghe chuyện về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đi chiến dịch Hoàng Hoa Thám.

Với bộ quần áo lính, Đại tướng đi kiểm tra trận địa như một cán bộ bình thường. Khi đi ngang qua con suối rộng, lổn nhổn đá đầy rêu rất trơn, có đồng chí cán bộ đi giày đinh chiến lợi phẩm dáng sĩ quan, sợ ướt giày, nói: “Có cậu nào giúp cõng tôi qua suối?”, thế là Đại tướng ghé vai cõng đồng chí đó. Đi nửa chừng biết người cõng mình là một cán bộ cấp cao ở Tổng cục Chính trị, đồng chí đó sợ hãi, xin xuống nhưng Đại tướng vẫn cõng anh bạn qua suối. Sau đó Đại tướng vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra coi  như là một việc bình thường trong giúp đỡ đồng đội.

Chuyện đó tôi nghe kể tại sân một nhà dân gần bốt địch ở Chợ Cổng, huyện Thái Ninh, tỉnh Thái Bình.

Trước đó, vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong cuộc chiến tranh 9 năm, thực dân Pháp mở rộng đánh vào Thái Bình nơi tôi công tác, chúng càn quét liên miên và lập các làng tề, không ít cán bộ hoang mang bật đất, có người vượt sông Hồng tới Nho Quan, Xích Thố-Ninh Bình, có người chạy tới Hậu Hiên-Thanh Hóa.

Giữa lúc đó, Thái Bình được Trung ương bổ sung một số cán bộ Bình-Trị-Thiên mà tôi còn nhớ gồm đồng chí Tư Quang (tên tục là Chúc) quê Thừa Thiên và các đồng chí Kim, Đạc người Quảng Trị. Chính các đồng chí đó đã truyền đạt kinh nghiệm chiến tranh ở các vùng sau lưng địch – Bình-Trị-Thiên. Đồng chí nào cũng nhắc tới tư tưởng của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Khu ủy: “Tiến vào lòng địch, bám dân, không mất dân thì không bao giờ mất đất”.

Chính tư tưởng tiến công, tin vào dân, dựa vào dân đó đã giúp chúng tôi vượt sông, vượt đường len lỏi qua bốt địch trở về bám dân, bám đất, giữ vững địa bàn tiến hành cuộc chiến đấu trong lòng địch, ngày xuống hầm, đêm vượt hầm vận động nhân dân đấu tranh chính trị và vũ trang, xây dựng cơ sở, bảo vệ nhân dân.

Kể lại những chuyện nhỏ để nhớ những ấn tượng sâu sắc về tinh thần cách mạng tiến công, luôn luôn tin vào dân, dựa vao dân, gần gũi cán bộ, thương yêu cán bộ, chiến sĩ của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, một đồng chí lãnh đạo, học trò xuất sắc của Bác Hồ.

Cho đến khi được làm việc với anh, tôi càng hiểu thêm tư tưởng và phong cách của anh, một đồng chí lãnh đạo mẫu mực, có tầm ảnh hưởng lớn tới sự lãnh đạo của Đảng.

Khi làm việc với anh, chúng tôi hay được gọi đến nhà anh ở 34 Lý Nam Đế (sau khi anh mất, gia đình đã trả lại nhà cho Bộ Quốc Phòng, nay là trụ sở Hội Cựu chiến binh). Đó là ngôi biệt thự xây từ thời Pháp thuộc, có sân rộng, ở sân có cây phượng vĩ tỏa bóng mát trên ghế đá mà thỉnh thoảng anh cùng chúng tôi vẫn ngồi nói chuyện khi chuẩn bị đi công tác hoặc chuẩn bị thảo luận về một đề tài nông nghiệp do anh nêu ra.

Chúng tôi biết anh Thanh rất quý các nhà văn, nhà báo, nhưng đối với chúng tôi, Ủy viên Bộ Chính trị, Đại tướng là vị trí rất to trong Đảng và quân đội, nên tiếp xúc lúc đầu không thực sự thoải mái, nhưng anh thường khêu gợi để chúng tôi cũng như các cán bộ anh mời đến mạnh dạn nêu ý kiến thảo luận.

Anh nói: “Các cậu cứ tranh cãi thoải mái, mình xuất thân từ nông dân, suốt đời trận mạc, nay được trao phụ trách nông nghiệp, có nhiều điều chưa biết, cho nên sẽ cùng tham gia tranh cãi, khi tranh luận có ý đúng có ý chưa đúng là việc bình thường, còn nếu cậu nào nói đúng một nửa cũng đã giữ 50% chân lý, rất “oách” rồi còn gì!”.

Trong không khí thoải mái đó, chúng tôi cũng hăng hái có ý kiến, có lúc “quá mạnh bạo”, nói xong rồi mới thấy run. Chẳng hạn, lúc đó Đoàn cố vấn về thủy lợi của Trung Quốc do bà Bộ trưởng Tiền Chính Anh dẫn đầu sang đã góp ý kiến về phương châm “ba chính” trong công tác thủy lợi: giữ nước là chính; thủy lợi nhỏ là chính; nhân dân làm là chính.

Lúc bấy giờ, ý kiến của các đoàn cố vấn Trung Quốc có sức nặng ghê gớm, nghe phổ biến, một số cán bộ của ta có băn khoăn nhưng cũng chỉ thảo luận nhỏ với nhau. Tôi mạnh dạn thưa với anh: “Ở ta có vùng hạn, vùng úng mà chống úng xem ra khó hơn, nhưng nhất loạt “giữ nước là chính” để chống hạn thì không bao quát tình hình; rồi cần làm nhiều thủy lợi nhỏ nhưng phải làm thủy lợi vừa và lớn mới có nguồn để chủ động cấp nước và tiêu nước, cho nên chỉ “thủy lợi nhỏ là chính” mà chưa có công trình vừa và lớn thì e chống hạn và chống úng đều không hiệu quả”.

Thực ra điều tôi trình bày cũng chỉ là nói lại ý kiến của một số cán bộ mà tôi nghe được, nhưng lại động chạm tới ý kiến của cố vấn là chuyện to, buột miệng nói ra rồi, chờ nghe phê phán. Nhưng anh ôn tồn nói: “Ta cứ khiêm tốn lắng nghe ý kiến cố vấn, nhưng khi làm thì điều chỉnh cho phù hợp với tình hình cụ thể của cả nước và từng vùng”.

Lại nhớ, khi chuẩn bị Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm 1960 về nông nghiệp mà bây giờ ai cũng nhớ những khẩu hiệu nổi tiếng như “Phá xiềng ba sào”, “Đuổi kịp mức sống trung nông” và “Phong trào làm thủy lợi hai năm”... anh cũng cho tôi đi theo xuống Đồ Sơn, ở trong nhà nghỉ của quân đội lúc đó còn lợp mái tranh. Anh mời các chuyên gia đến báo cáo, nêu vấn đề, góp ý với đề cương. Sáng làm việc, chiều cùng tắm biển, tạo điều kiện tốt và gần gũi cho các chuyên gia để có không khí thoải mái khi làm việc.

Còn nhớ một cán bộ kỹ thuật rất nổi tiếng được mời đến phát biểu về kỹ thuật đối với cây lúa. Chắc vì thấy anh là Ủy viên Bộ Chính trị, nên đồng chí đó nói liền một mạch đến gần nửa tiếng quan điểm của Mác, Lênin và các nhà kinh điển về sản xuất. Xem ra anh rất sốt ruột vì muốn nghe kỹ thuật thì đồng chí đó lại thao thao về chính trị cho nên ghé tai tôi nói: “Cậu ta nói dông dài về Các Mác thực ra “khác Mác”. Tôi muốn cười mà không dám cười biết tính anh muốn nghe những chuyện thực tế chứ không phải lúc nào cũng nói lập trường, quan điểm chung chung.

Được làm việc với anh thật thoải mái vì anh cho phép thế. Nhớ một lần đi công tác miền Trung, đến khe Nước Lạnh, ở vùng nam Thanh, bắc Nghệ, đã quá trưa, anh rủ tôi ngồi dưới gốc cây gạo, giở cơm nắm ra ăn rồi nghỉ ngơi. Trong lúc nghỉ, với cái máu nhà báo liều mạng, tôi xin phép hỏi anh: “Được biết anh được Bác Hồ giới thiệu để bầu bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương ở Hội nghị Tân Trào, là người lãnh đạo nhưng vốn là nông dân tá điền, anh nhớ câu ca dao nào nhất?”.

Sở dĩ hỏi anh câu đó vì khi được giao phụ trách nông nghiệp, tôi phải tìm hiểu cuộc sống của nông dân trong đó có học qua ca dao, tục ngữ mà tôi đang đọc sách của các ông Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan, nay hỏi anh để hiểu thêm về ca dao trong cuộc sống của người nông dân Việt Nam.

Thấy tôi hỏi, đồng chí Chắt, đại úy bảo vệ lừ mắt, ý nói “nên để anh nghỉ”, nhưng anh nghĩ một lúc rồi nói: “Mình nhớ nhất câu Rồi mùa, toóc rã, rơm khô/ Bạn về quê bạn biết xứ mô mà tìm”. Gặt xong thì thóc của nhà chủ vào bồ, rơm lên đống, rạ (toóc) ngoài đồng đã mục mà mình mất luôn tình bạn của những kẻ làm thuê theo mùa”.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một vị tướng nông dân. Ảnh tư liệu

Cái tình nghĩa bạn bè thuở hàn vi cứ đeo đẳng khiến cho cả đến khi trở thành người lãnh đạo cao cấp vẫn luôn nặng lòng với những người nghèo khổ. Anh là người lãnh đạo thích đi cơ sở, thích nói chuyện tâm tình với dân và không bao giờ “sáng đi tối về”, không có chuyện thao thao diễn thuyết. Mỗi lần xuống xã là ở đêm với dân như đã từng ở Trại Trang (Hưng Yên), Đồng Tâm (Phú Thọ)...

Nhớ những ngày theo anh về hợp tác xã Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình để nghiên cứu tình hình, tổng kết công tác “đuổi kịp trung nông” theo gợi ý trong một bài báo của Bác Hồ, anh cũng ngủ tại xã chứ không nghỉ tại nhà khách huyện. Quần áo bộ đội bạc màu, đi dép râu, anh ngồi bệt xuống đất ven bờ sông Kiến Giang trò chuyện với cán bộ xã và nông dân. Nhiều bà con, nhất là các cựu binh, biết tiếng Đại tướng nhưng chưa hề biết mặt cứ hỏi anh em trong đoàn: “Đại tướng mô?”. Anh sợ phiền bà con và mất thời giờ, cho nên chỉ anh Dương Quốc Cẩm lúc đó là Vụ trưởng của Ban Nông nghiệp Trung ương, nói: “Cứ hỏi ông này”.

Thấy dáng anh Cẩm cao to, trắng trẻo, đi đứng bệ vệ, nhiều người cứ tưởng anh Cẩm là Đại tướng. Dù bị nhận nhầm, nhưng biết tính anh cho nên anh Cẩm cũng ậm ừ, không dám cải chính... Làm việc xong, anh nói: “Cậu Thọ tối nay đi cấy với bà con, tâm tình xem bà con đánh giá Chủ nhiệm Ánh thế nào”. Ở đây có thủy triều nước lên xuống cho nên bà con phải chờ nước rút để cấy “lấn nước”, ra đồng từ nửa đêm, vừa cấy vừa hò vui vẻ. Sáng ra đã thấy anh đứng ở đầu bờ thăm bà con... Ở Đại Phong, anh muốn đến tận nơi khai hoang Bến Tiến, đi dọc sông Kiến Giang cũng tới mười cây số. Ngồi đò chở đi, có lúc anh thay tay cầm chèo rất mát mái rồi cùng họ hò câu hò Lệ Thủy mà anh mới học được, như một người nông dân Đại Phong chính hiệu.

Khi tổng kết công tác, anh thường nêu những khẩu hiệu cổ vũ phong trào rất dễ nhớ. Với nông nghiệp, ai cũng nhớ câu “bám đội, lội đồng” thể hiện tác phong sát dân, sát đồng ruộng của người lãnh đạo, quản lý. Nếu tôi nhớ không nhầm thì đó chính là câu trả lời của Chủ nhiệm Nguyễn Ngọc Ánh với anh, mà anh rút ra thành chuẩn mực tác phong của người lãnh đạo nông nghiệp. Sau này, khi được nghe anh nêu phương châm đánh Mỹ ở miền Nam “nắm thắt lưng địch mà đánh” vừa tỏ rõ khí phách vừa chỉ rõ phương pháp, chiến thuật cũng là do anh cũng tổng kết phương châm đánh địch của một đại đội ở Núi Thành - Quảng Nam...

Phẩm chất của người lãnh đạo ở anh là sát dân, sát lính, không phải là mị dân mà ở sự đồng cảm, chân thành, tôn trọng dân, học dân, tổng kết sáng tạo của dân để nâng tầm lãnh đạo. Đó thực sự là phong cách của Hồ Chí Minh mà anh là một người học trò xuất sắc.

Những công việc quan trọng nhất trong sự nghiệp của anh, tôi không được chứng kiến, chỉ xin kể lại chút kỷ niệm nhỏ về anh để nhớ người cán bộ hết lòng vì dân, bao dung, lắng nghe, sát cơ sở, sát đồng bào theo phong cách Hồ Chí Minh.

Khi đài phát thanh báo tin anh Nguyễn Chí Thanh, mà chúng tôi hay gọi thân mật là anh Thao, mất tháng 7/1967, tôi là phóng viên chiến trường của báo Nhân dân đang theo bộ đội hành quân vào Khe Sanh. Thật sự rất bất ngờ và đây là nỗi đau lớn đối với tôi cũng như với đơn vị bộ đội đang hành quân, hy vọng sẽ gặp lại để tâm sự với Thượng tá Mai Quang Ca, là thư ký của anh, đang là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận, người đã từng cùng với tôi giúp anh hoàn thành tác phẩm nổi tiếng Hoan nghênh hợp tác xã Đại Phong đầu năm 1961.

Viết tới đây, tôi lại nhớ, một lần vào dịp giáp Tết, khi cùng Mai Quang Ca nghe anh nêu dàn bài cuốn sách thì có người đưa đến một tập thơ đã đánh máy, anh hỏi: “Cái gì thế này?”, đồng chí đó trả lời: “Đây là những bài thơ của anh viết thời kỳ hoạt động cách mạng, chúng tôi sưu tầm lại để in ở Nhà xuất bản Phổ thông, các anh ở Bộ Văn hóa, Hội Nhà văn và anh Tố Hữu đã xem, giờ đến xin chữ ký của anh”. Anh giở qua tập đánh máy, rồi nói: “Đúng là thơ của mình. Lúc đó, anh em chúng mình làm thơ tỏ rõ ý chí, khí tiết cách mạng để tự động viên, động viên nhau tiếp tục chiến đấu, chứ có giá trị văn học gì đâu mà in thành sách. Đồng chí về nói tôi cảm ơn Bộ và Hội, nhưng không nên in, để giấy in những bài thơ hay”. Thế là tôi lại được hiểu thêm về anh, con người luôn hiểu rõ giá trị thực chất những việc mình làm.

Sau chuyến công tác ở Khe Sanh, trên đường về Quảng Bình, tôi đạp xe về Lệ Thủy, nhờ các đồng chí giúp đỡ lên Bến Tiến để nhớ lại những kỷ niệm về anh.

Rồi hai năm sau, vào mồng Một Tết Kỷ Dậu - 1969, theo Bác Hồ đi trồng cây trong Tết trồng cây lần thứ 10 và cũng là Tết trồng cây lần cuối cùng của Người trên đồi Đồng Váng, Sơn Tây, tôi được phép ngồi quây quần dưới bóng cây bạch đàn dự buổi nói chuyện của Bác với nông dân. Tôi chợt nhận ra chị Đỗ Thị Soan, một trong mười cô gái “Đại Phong” ở Tòng Lệnh, ven sông Đà, mà anh đã từng về  tận nơi để thăm hỏi các chị, đồng thời đã từng căn dặn chúng tôi chú ý nêu gương những người trẻ tuổi “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” làm nên “phong trào Đại Phong” trong nông nghiệp.

Giờ chị Soan đã trưởng thành, trở thành Bí thư Chi bộ, đang chăm chú nghe Bác Hồ dặn dò, phải hết lòng vì dân, phải thực sự dân chủ, không để hợp tác xã chè chén lu bù, tiêu pha lãng phí tiền thóc của dân, tôi lại nhớ lời dặn của anh về chăm lo bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ trẻ trở thành lớp người kế nghiệp theo tấm gương hết lòng vì nước, vì dân của Bác Hồ, khi anh góp ý cho chúng tôi cổ vũ “Trai, gái Đại Phong” trong “phong trào Đại Phong”.

Hữu Thọ