(Chinhphu.vn)- Hơn nửa thế kỷ qua, thế giới đã chứng kiến nhiều thay đổi trên bản đồ kinh tế thế giới, đặc biệt là vị trí của những nền kinh tế lớn nhất, tiêu biểu là Nhật bản. Nhưng từ năm 2000, Trung Quốc lần lượt vượt qua các “người khổng lồ” là Pháp, Anh, Đức và trong năm 2010 có thể soán ngôi của Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn của thế giới, chỉ sau Mỹ.

Thế giới từng chứng kiến sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong những năm 1960-1970.

Đây có thể là một sự thay đổi quan trọng trong nửa đầu thế kỷ 21 trong đời sống kinh tế của nhân loại.

Một nghiên cứu của Hãng Kiểm toán Pricewaterhouse Coopers (PwC) vừa công bố, khẳng định rằng GDP của 7 nền kinh tế mới nổi lớn nhất, gọi tắt là E.7, vào năm 2020 sẽ vượt quá tổng GDP của các nước giàu nhất thế giới (G7) hiện nay. Theo đó, đến năm 2030, các nền kinh tế lớn nhất thế giới, theo thứ tự sẽ là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Brazil, Nga, Đức, Mexico, Pháp và Anh.

Năm 2009, hai Hội nghị G.20 tại London (tháng 4) và Pittsburgh (tháng 9) đã cho thấy sự cần thiết phải cho phép 3 cường quốc kinh tế mới - Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil - tham gia các quyết định về chính sách kinh tế mang tầm vóc toàn cầu (mà Nga đã có mặt với tư cách là thành viên G.8).

Bản danh sách E.7 của PwC đã bổ sung vào nhóm BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc) các nước mới nổi lớn là Mexico, Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ. Sự phát triển năng động của Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ đã diễn ra theo cùng cách thức và đồng thời với nhiều nước khác. Tuy nhiên, đó chỉ là những nền kinh tế quy mô nhỏ, người ta chỉ chú ý tới “3 nước lớn nhất".

Thực chất, khái niệm "nước mới nổi" không phù hợp với bất cứ định nghĩa kinh tế chính xác nào. Danh sách các nước này thay đổi tuỳ theo từng tác giả đánh giá.

Vào thập kỷ 1980, sự phát triển của 4 con rồng châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong và Singapore) đã cho phép họ gia nhập thẳng hàng ngũ "các nền kinh tế công nghiệp mới" - NICs, vì thu nhập bình quân đã ngang bằng các nước giàu.

Trong trường hợp Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil hiện nay, quy mô dân số khiến cho tình trạng của họ, mặc dù được cải thiện, vẫn chưa thể so với các nước giàu. Trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Indonesia và Marốc... cũng tương tự.

Phần lớn các nhà kinh tế nhất trí rằng các nước được hưởng nguồn thu nhập cao nhờ xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên (dầu khí, khoáng sản) chỉ được gia nhập nhóm nước này (nước mới nổi) nếu như thu nhập từ việc bán tài nguyên được sử dụng để đa dạng hoá cỗ máy sản xuất và thoát khỏi bị lệ thuộc vào xuất khẩu "sơ cấp". Bởi vì "nổi lên" là một quá trình lâu dài, chỉ được kiểm chứng đúng hay không nhờ vào việc xem xét các đặc tính về cơ cấu của nền kinh tế có tạo ra được hiệu quả bền vững và liên tục hay không, chứ không phải là sự nhảy vọt nhất thời.

Do đó, các nước vùng Vịnh và Nga không được xếp vào danh sách nêu trên do hưởng lợi chủ yếu từ sự tăng giá các nguồn tài nguyên.

Hơn nửa thế kỷ qua, thế giới đã chứng kiến nhiều lần thay đổi trong bản đồ kinh tế thế giới, đặc biệt là vị trí của những nền kinh tế lớn nhất.

Sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong những năm 1960-1970 đã đưa nước này vượt qua hàng chục nước, nhảy lên vị trí thứ 2 trong số các nền kinh tế khổng lồ nhất và giữ vị trí này trong suốt 40 năm qua.

Nhưng gần đây nhất, kể từ năm 2000, Trung Quốc lần lượt vượt qua các người khổng lổ là Pháp, Anh, Đức và trong năm 2010 này có thể soán ngôi vị của Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Mỹ.

Đây có thể là một sự thay đổi quan trọng trong nửa đầu thế kỷ 21, vì sự vươn lên của Ấn Độ, tuy cũng rất mạnh, song chưa thể vượt qua Trung Quốc trong nửa đầu thế kỷ này./.

 Nguyễn Chiến