(Chinhphu.vn) - Báo cáo triển vọng mới nhất của Viện Kinh doanh Mỹ (AEI) nhận định hiện nay lạm phát của Trung Quốc đã đạt đỉnh cao và có thể gây mất ổn định. Do đó, Trung Quốc phải quyết định một số lựa chọn giải pháp để ngăn chặn lạm phát và khôi phục sự ổn định.

Báo cáo của AEI cho rằng nền kinh tế Trung Quốc phát triển quá nóng nhiều năm qua do nguồn vốn bên ngoài đổ vào nhanh hơn nguồn vốn từ Trung Quốc chảy ra nước ngoài, tới mức Trung Quốc không thể áp dụng các biện pháp thông thường để ngăn chặn ảnh hưởng của nguồn vốn quá lớn.

Rõ ràng bên cạnh việc ngăn chặn nguồn vốn đổ ra bên ngoài của các công ty không trực thuộc nhà nước, cách duy nhất để Trung Quốc hạn chế khả năng thanh toán tiền mặt quá lớn và sức ép lạm phát được thực hiện từ năm 2010 là để đồng Nhân dân tệ (NDT) tăng giá nhanh hơn, nâng lãi suất cao hơn hoặc tăng các khoản dự trữ bắt buộc lớn hơn.

Những biện pháp này sẽ hạn chế các ngân hàng tăng các khoản cho vay và khiến người tiêu dùng đổ xô mua hàng, hay nói cách khác là tăng chi tiêu, từ đó khiến giá cả hàng hóa tăng. Trung Quốc có thể giải quyết vấn đề lạm phát bằng biện pháp cơ bản hơn như cho phép các công ty tư nhân xuất khẩu vốn, nghĩa là đầu tư ra nước ngoài.

Về cơ bản, Trung Quốc đang theo đuổi hình mẫu “sản xuất - tiết kiệm - đầu tư" của châu Á mà hiện tỏ ra không hiệu quả đối với Nhật Bản sau khi nền kinh tế nước này bùng nổ trong thập kỷ 1970 và 1980. Trong giai đoạn đó, khu vực tài chính của Nhật Bản không phát triển và người dân Nhật Bản không được phép đầu tư ra nước ngoài. Ở trong nước, tất cả các quyết định đầu tư đều do các cơ quan chính phủ đề ra và chính phủ sử dụng tất cả các khoản tiết kiệm của các hộ gia đình gửi trong Hệ thống tiết kiệm bưu điện và các ngân hàng. Khi người Nhật Bản giàu hơn, họ tìm cách dự trữ và tăng số lượng của cải mà họ tích trữ được nhờ lao động chăm chỉ. Họ đầu tư vào thị trường chứng khoán trong nước và bất động sản.

Cuối thập kỷ 1980, quả bóng bất động sản ở Nhật Bản quá lớn đã bùng nổ và Nhật Bản rơi vào một thập kỷ suy thoái kéo dài, trong đó của cải mất đi gần bằng 3 năm thu nhập quốc gia, kéo theo lạm phát triền miên và mức tăng trưởng trì trệ cho đến ngày nay.

Có một số vấn đề giống nhau giữa hình mẫu "sản xuất, tiết kiệm và đầu tư ít" của Nhật Bản và thực tiễn của Trung Quốc trong thập kỷ qua. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành một trung tâm sản xuất phát triển và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Điều đó cho thấy Trung Quốc đang đi con đường mà Nhật Bản đã đi.

Việc cho phép các nguồn vốn đổ ra nước ngoài của Trung Quốc, được giải phóng bởi chế độ kiểm soát ngoại tệ, đang trở nên bức thiết từng ngày. Quý I/2011, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc tăng thêm 197 tỷ USD, nâng tổng dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc trên 3.000 tỷ USD.

Do Trung Quốc không thể làm mất tác dụng của các nguồn tiền đối với mức tăng tiền tệ, lạm phát  tăng trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao đủ để gây nên lạm phát hơn nữa. Tháng 3/2011, lạm phát hàng tiêu dùng ở Trung Quốc tăng 5,4%/năm, cao hơn so mức lạm phát 4,9% trong tháng 2/2011. Đây là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ tháng 7/2008 và cao hơn mức lạm phát dự kiến 3-4% của Trung Quốc.

Giá lương thực, thực phẩm thuộc loại giá cả tăng nhanh nhất ở Trung Quốc và có xu hướng chiếm gần hết tỷ lệ lạm phát. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến gánh nặng cuộc sống của người công nhân hưởng mức lương thấp. Gánh nặng như vậy đã tạo nên nhu cầu đòi Chính phủ tăng lương tối thiểu. Kết quả là, việc tăng mức lương tối thiểu cũng như tăng các khoản lương khác ở Trung Quốc đã thúc đẩy lạm phát tăng hơn nữa…

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) có ý định giảm sức ép lạm phát bằng cách nhanh chóng tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng và tăng lãi suất cho vay một năm.

Tuy nhiên, không số liệu kinh tế nào trong tháng 3/2011 được công bố giữa tháng 4/2011 cho thấy nền kinh tế quá nóng của Trung Quốc có chiều hướng giảm, bất chấp PBOC đã áp dụng các biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng lớn và tăng lãi suất. Mức tăng GDP hàng năm trong tháng 3/2011 đạt 9,7%, cao hơn mức dự kiến 9,4%. Hàng hóa bán lẻ tăng 17,4%, cao hơn mức dự kiến 16,5%. Sản xuất công nghiệp và đầu tư cũng cao hơn dự kiến, thậm chí đầu tư nhà ở tăng trên 33%, trong khi giá nhà ở tại các khu chung cư mới xây dựng ở các thành phố lớn tiếp tục tăng.

Những kết quả đó rất ấn tượng, đặc biệt về các nỗ lực chính sách để làm giảm các nguồn vốn đổ vào khu vực bất động sản. Nhưng mức độ nào đó, các biện pháp đầu tiên của Trung Quốc hướng tới mở rộng vai trò quốc tế của đồng NDT cũng thúc đẩy sức ép lạm phát ở Trung Quốc.

Trước sức ép lạm phát ngày càng tăng, Trung Quốc cho phép nâng giá đồng NDT so với đồng USD để giảm bớt sức ép lạm phát ở trong nước và Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc (CIC) đang tìm cách mở rộng đầu tư hơn nữa ra nước ngoài.

Ngày 19/4, Thống đốc PBOC Chu Tiểu Xuyến cho biết Trung Quốc sẽ giảm bớt các khoản dự trữ ngoại tệ vì vượt quá ngưỡng mà Trung Quốc đòi hỏi. Tuyên bố này cho thấy các nguồn vốn đổ vào Trung Quốc nhanh tới mức PBOC không còn khả năng làm mất tác dụng của chúng đối với mức tăng khả năng thanh toán tiền mặt và lạm phát ở Trung Quốc.

Như vậy, những chính sách mới sẽ cho phép Trung Quốc tránh được phương thức “sản xuất, tiết kiệm và đầu tư”, hạn chế các quả bóng đầu tư như đã xảy ra và gây vết thương nghiêm trọng ở Nhật Bản./.

Mai Hằng