(Chinhphu.vn) - Việc đưa giúp việc gia đình trở thành một nghề chính thức trong Danh mục nghề quốc gia là rất cần thiết vì sẽ giúp người lao động được pháp luật bảo vệ và công tác quản lý thuận tiện hơn.

Lao động chăm sóc người bệnh tại gia đình và bệnh viện đang có xu hướng gia tăng - Ảnh VGP/Thanh Thủy

Đây là kiến nghị được đưa ra tại Hội thảo Công bố Kết quả nghiên cứu về giúp việc gia đình từ năm 2007 đến nay do Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng phối hợp với các đơn vị tổ chức ngày 28/8.

Phát triển về lượng, yếu về chất

Theo nghiên cứu, nhu cầu người giúp việc liên tục tăng nhanh qua các thời kỳ. Có khoảng 0,4% lực lượng lao động làm thuê trong các hộ gia đình. Dự báo, số lượng lao động này đến năm 2015 sẽ tăng lên khoảng 63% so với năm 2008, từ 157.000 người lên 246.000 người.

Thực tế, phần lớn lao động giúp việc chưa qua đào tạo nghề (chiếm 98,4%), trong đó có tới 28,3% không biết chữ, 52,5% học hết THCS, 19,2% học hết THPT.

Chính vì vậy, người giúp việc gặp nhiều khó khăn trong công việc vì những trải nghiệm của họ khác với yêu cầu của gia chủ. Trong khi đó, trên 50% gia đình được khảo sát có dự định thuê người giúp việc qua đào tạo, 87% sẵn sàng trả lương cao hơn cho người giúp việc đã qua đào tạo.

Đáng chú ý, có tới 71% người giúp việc cũng có nhu cầu tham gia các lớp dạy kiến thức, kỹ năng cho người giúp việc. Nhưng trên thực tế, đào tạo giúp việc gia đình hiện nay chủ yếu là đào tạo để giới thiệu đi xuất khẩu lao động chứ không phục vụ thị trường trong nước.

Theo nhiều ý kiến, nội dung dạy nghề quan trọng nhất trong đào tạo giúp việc là hướng dẫn sử dụng trang thiết bị trong gia đình, kỹ năng chăm sóc trẻ nhỏ, người già, cách chế biến, bảo quản thức ăn.

Cần “chính danh” để bảo vệ

Theo quy định của Luật lao động sửa đổi năm 2012, người sử dụng lao động phải trả cho người giúp việc khoản tiền bản hiểm y tế, bảo hiểm xã hội để họ tự lo bảo hiểm. Tuy nhiên, chỉ có 0,8% người giúp được mua bảo hiểm xã hội khi đã làm việc trên 8 năm tại gia đình, 22% có bảo hiểm y tế nhưng đều do đã mua từ trước.

Đáng chú ý có tới 91,5% lao động và gia chủ thỏa thuận hợp đồng bằng miệng vì người lao động chưa thấy lợi ích khi ký hợp động và không muốn trói buộc vào một gia đình còn gia chủ không muốn chịu trách nhiệm và bị ràng buộc về mặt pháp lý.

Bên cạnh đó, mặc dù chỉ có 13% gia đình tìm người giúp việc qua cơ sở giới thiệu việc làm nhưng chất lượng của các trung tâm này cũng là vấn đề đáng bàn bởi nguồn lao động từ các trung tâm không có lai lịch rõ ràng, ít kỹ năng làm việc. Các trung tâm này cũng thường không có trách nhiệm về chất lượng dịch vụ mà họ cung ứng.

Dựa vào các kết quả nghiên cứu, các đại biểu cho rằng, việc đưa giúp việc gia đình trở thành một nghề chính thức trong danh mục nghề Quốc gia là rất cần thiết vì sẽ giúp người lao động được pháp luật bảo vệ và công tác quản lý thuận tiện hơn.

Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, tuy không trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng lao động giúp việc gia đình đã tạo điều kiện cho lực lượng lao động chính, có chất lượng cao, phát huy khả năng. Đời sống, thu nhập của bộ phận này hoàn toàn phụ thuộc vào người sử dụng lao động. Phần lớn có thu nhập chưa tương xứng với sức lao động, thời gian lao động, trách nhiệm của bản thân. Nghề giúp việc gia đình chưa được xã hội đánh giá và quan tâm đúng mức nên có những thiệt thòi.

Thời gian tới, rất cần những chính sách hỗ trợ phát triển nghề giúp việc gia đình, tạo cơ hội cho lao động giúp việc được tham gia vào các tổ chức đại diện như thí điểm mô hình CLB người giúp việc tại các phường theo Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam.

Thu Cúc