(Chinhphu.vn) – Tại Hội thảo “Thủy điện miền Trung và sự tham gia của người dân” diễn ra tại TP Hội An ngày 3/10, đã có nhiều phân tích về vấn đề phát triển thủy điện và tìm cách hạn chế các tổn hại môi trường và cuộc sống người dân.

 

Ảnh minh họa

PGS. TS Lê Anh Tuấn, Cố vấn VRN đánh giá, phần lớn sinh kế và đời sống người dân nông thôn và vùng đồi núi miền Trung đều dựa vào những con sông. Tuy nhiên, từ khi có các nhà máy thủy điện đã tác động không nhỏ đến cộng đồng dân cư. Thống kê cho thấy các dự án thủy điện trên 50 MW ở miền Trung - Tây Nguyên chiếm lượng đất rất lớn. Riêng thủy điện Ka Nak (Gia Lai) chiếm diện tích lớn nhất vào khoảng 174,41 ha/MW, tiếp đến là thủy điện Sông Hinh (Phú Yên) 84,79 ha/MW, thủy điện Pleikrong (Kon Tum) 53,28 ha/MW….

Theo Trung tâm Nghiên cứu Phát triển xã hội (CSRD), sự phát triển nhanh về mật độ các nhà máy thủy điện tại miền Trung thời gian qua đã bộc lộ nhiều vấn đề liên quan tới môi trường, xã hội và đôi khi cả về sự cố kỹ thuật gây nhiều hệ lụy bất lợi cho sự phát triển khu vực.

Ông Đặng Phong, Phó Giám đốc Sở Tài chính Quảng Nam, nguyên là Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My cho hay, hai nguyên nhân khiến thủy điện phát triển ồ ạt trong mấy năm qua là bởi lý do ưu tiên phát triển nguồn năng lượng thiết yếu cho quốc gia, cũng đồng thời là vấn đề lợi nhuận rất lớn khi đầu tư các dự án nhà máy thủy điện.

 “Thủy điện đã tác động không tốt đến môi trường và cả cuộc sống, phong tục, sinh kế của của người dân địa phương” ông Phong bày tỏ quan điểm.

Đại diện người dân bị ảnh hưởng của lòng hồ thủy điện- thủy lợi Tả Trạch, bà Phan Thị Qua, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế nói: “Chúng tôi có đường, có điện, có trạm y tế, nhưng ruộng lúa lại không có nước để canh tác, cả nhà sống nhờ vào 1,2 ha đất làm rừng”.

Là một người dân bị ảnh hưởng ở vùng hạ lưu sông Vu Gia - Thu Bồn, bà Phạm Thị Kim Hoa, ở Đại Lộc, Quảng Nam, cho hay: “Ngày xưa dòng sông quê tôi rất rộng, thuyền ghe xuôi ngược, từ ngày có thủy điện ở vùng thượng lưu thì lòng sông bị thu hẹp, nước cạn, đất sản xuất bị bồi lấp, cánh tác khó khăn hơn trước. Một số bộ phận dân cư đã treo lưới, treo thuyền vì không có cá”.

Phục hồi sinh kế cho dân

Nhiều ý kiến tại hội thảo đề nghị chủ đầu tư thủy điện chia sẻ lợi ích, chia sẻ lợi nhuận để phục vụ sinh kế lâu dài cho người dân. Đồng thời đề xuất nhà quản lý, các đơn vị xây dựng cơ chế quản lý nguồn nước tổng hợp trên cơ sở lưu vực sông, đồng thời, thúc đẩy phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo một cách bền vững.

Bà Lê Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch Thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế cho hay, Hương Trà nằm giữa 2 con sông Hương và sông Bồ với 2 nhà máy thuỷ điện Bình Điền và Hương Điều. Hai dự án này đã góp phần tăng nguồn thu ngân sách, thúc đẩy phát triển hạ tầng cho địa phương.

Tuy nhiên, 2 dự án thủy điện trên cũng mang đến nhiều khó khăn mới trên địa bàn. “Vùng hạ du sông Hương, sông Bồ trước đây có khoảng 1.000 ha cây bưởi Hương Trà, là đặc sản của Huế, song hiện nay chỉ còn 300 ha, vì phù sa không về được, cây bưởi không còn tốt tươi, người dân đành chặt bỏ” bà Hương dẫn chứng.

Theo bà Hương, việc cam kết đảm bảo sinh kế cho người dân bị ảnh hưởng vẫn chưa làm được. Hiện thị xã đang tiến hành thu hồi khoảng 387,2 ha lâm trường để giao cho dân sản xuất, tranh thủ các dự án để đào tạo nghề cho người dân và tiếp tục khảo sát thực hiện sinh kế dưới tán rừng.

Ông Nguyễn Văn Thẩm, sống ở hạ lưu thủy điện A Vương, tỉnh Quảng Nam bộc bạch: “người dân ủng hộ xây dựng thủy điện nhưng cần điều tiết nước hợp lý để mùa khô dòng sông quê tôi có nước, về mùa mưa hạn chế lũ. Không để xảy ra trường hợp như ngày 2/10, thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ nhưng chúng tôi không hề hay biết”.

Đại diện tổ chức Rosa Luxemburg, Đức, chia sẻ ở một số quốc gia trước đây làm nhà máy năng lượng gió, thủy điện hay mặt trời đều có kế hoạch tham khảo ý kiến của các bên liên quan. Ở đây người dân mong chờ được chia sẻ lợi ích từ việc phát triển các dự án thủy điện, chính vì vậy cần có sự bàn bạc giữa chủ đầu tư và chính quyền về một cơ chế, chia sẻ lợi ích, tính toán giá trị mà người dân mất đi một cách lâu dài.

Theo ông Trần Văn Hạt, Ủy viên Thường trực HĐND Phú Yên, bình quân hộ nghèo Phú Yên hiện nay là 14,4%, trong khi đó ở vùng các nhà máy thủy điện là 36%, chứng tỏ sự hy sinh của người dân là lớn như thế nào. Do vậy, khi xây dựng các công trình thủy điện lớn cần có ý kiến tham vấn của người dân trước khi đầu tư. Ông Hạc kiến nghị Quốc hội, Chính phủ sửa đối chính sách liên quan đến thủy điện nên đặt lợi ích người dân, cộng đồng lên trên hết.

 Thế Phong