(Chinhphu.vn) - Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) vừa công bố danh sách 1.226 giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) được xét duyệt năm 2017. Con số này cao kỷ lục trong suốt lịch sử 41 năm nhà nước tổ chức xét phong, công nhận đạt tiêu chuẩn GS, PGS.

GS. TSKH. Trần Văn Nhung. Ảnh: VGP/Nhật Nam

Vì sao số GS, PGS được công nhận năm 2017 lại tăng đột biến so với năm 2016 và những năm trước đó? GS. TSKH Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) cho hay, năm 2017, thời điểm thông báo kế hoạch triển khai xét đạt tiêu chuẩn GS, PGS bắt đầu vào tháng 7 (những năm trước vào tháng 1), do đó thời gian kết thúc nhận hồ sơ trễ hơn mọi năm khoảng 6 tháng (đầu tháng 11 so với cuối tháng 5 những năm trước).

Lý do khách quan của việc trễ này là phải chờ đợi văn bản mới thay thế văn bản cũ (Quyết định 174 và Quyết định 20 của Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên, do văn bản mới cần tham khảo ý kiến rộng rãi của nhiều đối tượng khác nhau nên cho đến nay vẫn chưa được ban hành.

So với năm 2016, số ứng viên nộp hồ sơ để xét công nhận chức danh GS, PGS năm 2017 tăng mạnh, cụ thể tổng số ứng viên nộp hồ sơ là 1.537, trong đó có 151 ứng viên GS và 1.386 ứng viên PGS.

Sau khi xem xét ở 3 cấp Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở, Hội đồng Chức danh giáo sư ngành, liên ngành, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước, đã có 1.226/1.537 (79,76%) ứng viên đạt tiêu chuẩn, trong đó ứng viên GS là 85/151 (56,29%), ứng viên PGS là 1.141/1.386 (82,32%). So với năm 2016 tổng số GS, PGS được công nhận năm 2017 tăng 1,7 lần.

Bên cạnh việc tăng về số lượng, so với năm 2016 và các năm trước, chất lượng nghiên cứu khoa học của các ứng viên đã tăng lên một bước rõ rệt và ngày càng tiệm cận tới các chuẩn mực quốc tế. Số lượng các bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín (ISI và Scopus) của các ứng viên tăng mạnh. Năm 2017 (có 5.316 bài) tăng 2,1 lần so với năm 2016 (2.510 bài).

Cụ thể, Vật lý: 1.177 bài, Hóa học-Công nghệ thực phẩm: 1.027 bài, Y học: 674 bài, Sinh học: 597 bài, Toán học: 265 bài... Ứng viên của một số ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có bài báo đăng trên các tạp chí ISI và Scopus, cụ thể: Kinh tế: 102 bài, Triết học-Xã hội học-Chính trị học: 14 bài...

Năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh của các ứng viên tốt hơn các năm trước, nhất là các ứng viên trẻ, các ứng viên được đi du học theo Đề án 322, Đề án 911 của Chính phủ Việt Nam, ứng viên của các cơ sở giáo dục đại học có hợp tác quốc tế hiệu quả.

Nhiều ứng viên thành thạo 2 ngoại ngữ, tham gia giảng dạy ở các trường đại học nước ngoài hay dạy các chương trình bằng tiếng nước ngoài ở các trường đại học trong nước. Các ứng viên trẻ và giỏi với nhiều công bố quốc tế có giá trị và trình độ tiếng Anh tốt cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng nhanh số lượng tân GS, PGS.

GS. Trần Văn Nhung cho biết theo các quy định về tiêu chuẩn hiện hành, đến nay chưa có yêu cầu cụ thể, bắt buộc đối với ứng viên GS, PGS phải có bài báo quốc tế ISI, Scopus. Mặc dù vậy, HĐCDGSNN đã khuyến khích và hoan nghênh các công bố quốc tế. Thực tế cho thấy, các ứng viên thuộc các ngành Khoa học Tự nhiên, Kỹ thuật và Công nghệ đã có nhiều công bố quốc tế có giá trị. Đây chính là nền tảng để trong tương lai gần, yêu cầu có công bố quốc tế sẽ chính thức được đưa vào quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ thay thế cho Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg và Quyết định số  20/2012/QĐ-TTg.

Trong quá trình xem xét hồ sơ ứng viên, các Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở, Hội đồng Chức danh giáo sư ngành, liên ngành đã thực hiện nghiêm túc việc xét hồ sơ, đánh giá trình độ chuyên môn và khả năng sử dụng ngoại ngữ của ứng viên. Nhiều hội đồng ngành/liên ngành có số lượng ứng viên đạt chỉ chiếm khoảng 50-60% số ứng viên do hội đồng cơ sở chuyển lên.

Năm nay cũng là năm đầu tiên Bộ GD&ĐT cử Thanh tra Bộ đến các hội đồng cơ sở, hội đồng ngành để kiểm tra hồ sơ, quy trình xét của các hội đồng.

Tỉ lệ ứng viên đạt kết quả qua ba cấp cho thấy, khâu “sàng” ở các Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở, khâu “lọc” ở Hội đồng Chức danh giáo sư ngành, liên ngành và khâu “xét duyệt” của HĐCDGSNN đã có sự phối hợp rất tốt để nâng cao và bảo đảm mặt bằng chất lượng chung trong phạm vi cả nước, các ngành, liên ngành và chú ý đặc thù vùng miền, dân tộc ít người.

Tuy vậy, điều dư luận quan tâm và đòi hỏi nhiều nhất vẫn là chất lượng của đội ngũ GS, PGS, ở đây cụ thể là sự đóng góp của đội ngũ này đối với thực tiễn trên mọi lĩnh vực của đời sống. Theo GS. Trần Văn Nhung, khi đánh giá thành tích của các ứng viên GS, PGS, HĐCDGSNN sẽ xem trọng đồng thời cả 3 khía cạnh: Nghiên cứu khoa học, đào tạo và đóng góp xã hội. Như vậy, một GS hoặc PGS Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu khoa học (để có các công bố quốc tế ISI, Scopus) còn phải đóng góp tích cực trong đào tạo nguồn nhân lực (thể hiện qua viết sách, giáo trình, xây dựng chương trình, hướng dẫn NCS, cao học, thâm niên giảng dạy…) và đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước (thông qua thực hiện đề tài NCKH các cấp).

GS. Trần Văn Nhung khẳng định, mặc dù đợt xét vừa rồi số lượng ứng viên có tăng so với mọi năm vì lý do khách quan nhưng chất lượng ứng viên đã được cải thiện đáng kể. Với xu thế này chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng những tiêu chí ngày càng cao hơn trong những năm tới.

Nhật Nam