(Chinhphu.vn) – Theo báo cáo của Bộ GDĐT, sau 6 năm (2007-2013) thực hiện Nghị định 134/2006/NĐ-CP về quy định chế độ cử tuyển vào các trường ĐH, CĐ, trung cấp, cả nước có 12.805 học sinh là con em các dân tộc được cử tuyển vào các trường ĐH, CĐ, đạt 88% so với tổng chỉ tiêu 14.602 em.

Cả nước có 12.805 học sinh là con em các dân tộc được cử tuyển vào các trường ĐH, CĐ

Cho phép một số địa phương khó khăn, vùng dân tộc ít người được tuyển sinh đại học, cao đẳng theo chế độ cử tuyển là một chủ trương đúng và cần thiết của Chính phủ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các vùng sâu, xa.

Chất lượng đầu vào thấp

Theo đó, những học sinh nằm trong diện được tuyển không phải tham gia các kỳ thi tuyển sinh mà chỉ cần được địa phương lựa chọn, gửi danh sách lên các trường là các em có thể theo học bình thường cùng với các sinh viên khác.

Tuy nhiên, đánh giá về chất lượng sinh viên từ nguồn cử tuyển, tất cả các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) nhận đào tạo đối tượng này như ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Thái Nguyên, ĐH Luật Hà Nội, CĐ Sư phạm Điện Biên, ĐH Cần Thơ… đều có chung nhận định đó là chất lượng đầu vào chưa cao.

Đại diện của ĐH Thái Nguyên cho biết do trường không được tham gia công tác xét tuyển đầu vào hệ cử tuyển nên chất lượng sinh viên đầu vào không đảm bảo. Sau đó, khi tiếp nhận các em, nhà trường phải mất nhiều công sức để giúp các em có thể theo kịp các sinh viên khác, đặc biệt trong những năm đầu.

Mặc dù vậy vẫn có nhiều em học từ 8-10 năm vẫn chưa tốt nghiệp được dành "lưu ban kéo dà" vì không thể vượt qua kỳ thi cuối cùng. Ở những trường đào tạo theo hình thức tín chỉ cũng có rất ít học sinh theo kịp chương trình học, do các em phải học cùng, thi cùng, và trường cắt phách chấm điểm bình đẳng với sinh viên chính quy bình thường, không có sự ưu ái.

Bên cạnh đó, việc chọn ngành học của các em một phần do địa phương xác định, một phần do các em tự lựa chọn thường ít nhận được sự tư vấn, định hướng của các cơ sở đào tạo, nên việcg chọn ngành học không tương xứng với năng lực của các em rất phổ biến. 

Đa số học sinh cử tuyển lựa chọn những ngành “hot” như sư phạm (23,03%), y dược (25,6%), công nghệ thông tin-kỹ nghệ (15,5%) và kinh tế (16,82%), những ngành đòi hỏi học sinh ở trình độ khá, giỏi  và cả khả năng học ngoại ngữ… Đây là những điều kiện mà các em rất khó đáp ứng do xuất phát điểm thấp.

Sinh viên tốt nghiệp cũng khó tìm việc làm

Một thực tế cũng cần suy nghĩ đó là những sinh viên đã tốt nghiệp, ra trường lại vấp phải những khó khăn khi tìm việc làm.

Theo báo cáo của các địa phương, khóa học đầu tiên (2007-2008) có 2.132 sinh viên tốt nghiệp, nhưng mới chỉ có 852 em được bố trí công việc, đạt tỷ lệ 40,2%.

Nhiều sinh viên ra trường về chính địa phương mình nhưng cũng không được bố trí việc làm do tỉnh, huyện đã đủ biên chế. Một số khác dù đã tốt nghiệp ĐH nhưng vẫn không vượt qua được kỳ thi tuyển công chức. Chưa kể cũng có nhiều sinh viên ra trường không về quê  mà "tìm cách" ở lại Hà Nội để kiếm việc làm.

Nguyên nhân của tình trạng trên lỗi không hoàn toàn thuộc về các em. Cũng có địa phương khi cử học sinh cử tuyển đã không xem xét, rà soát kỹ nhu cầu nhân lực địa phương của mình xem ngành gì cần nhân lực, thừa thiếu bao nhiêu, mà chỉ cử đi cho hết... chỉ tiêu hoặc cử số lượng học sinh tùy theo mức cân đối ngân sách.

Chẳng hạn, các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít người thiếu nhiều cán bộ có chuyên môn về các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp thì lại cử các em học về công nghệ thông tin, công nghiệp.

Chưa kể nhiều tỉnh không sử dụng hết chỉ tiêu cử tuyển vì không cân đối được kinh phí hỗ trợ các em đi học. Xuất phát điểm năng lực của học sinh quá thấp nên không đáp ứng được điều kiện học tập nên hầu như không có học sinh cử đi.

Một số đề xuất

Bộ GDDT sẽ xem xét xây dựng cơ chế để bố trí việc làm cho sinh viên hệ cử tuyển

Tại Hội nghị sơ kết thực hiện chế độ cử tuyển, đại diện các trường ĐH Sư Phạm Hà Nội, ĐH Thái Nguyên, ĐH Cần Thơ đều cho rằng các cơ sở đào tạo cần được tham gia công tác sơ tuyển.

Trong công tác sơ tuyển phải có sự tham gia tư vấn, định hướng cũng như sơ tuyển của những người có chuyên môn nghiệp vụ mới có thể chọn ra nguồn tuyển chất lượng cao cho hệ cử tuyển.

Đây là một trong những điều kiện tiên quyết đảm bảo chất lượng đầu ra cũng như năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ tương lai.

Bên cạnh đó, các địa phương khi cử học sinh đi học cần rà soát kỹ nguồn nhân lực của mình; chú trọng những lĩnh vực, ngành nghề mang tính đặc thù của địa phương là phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp hoặc thủ công mỹ nghệ để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; cân nhắc kỹ việc đăng ký những nhóm ngành quá khó hoặc đang bão hòa hiện nay (như sư phạm, y dược…).

Theo kinh nghiệm thành công của một số địa phương (như Lai Châu, Hòa Bình), khi gửi chỉ tiêu cử tuyển xuống cấp huyện, xã, tỉnh yêu cầu những địa phương nào có nhu cầu cử người đi học phải làm cam kết sẽ bố trí việc làm cho những người đi học sau 5 năm.

Theo đề xuất của đại diện ĐH Y Hải Phòng, số tiền hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho học sinh sẽ chuyển sang dạng cho vay. Nếu học sinh nào bỏ học giữa chừng hoặc ra trường không tuân thủ sự phân công công tác của địa phương sẽ phải trả lại toàn bộ số tiền địa phương đã bỏ ra trong 4-5 năm học.

Để giải quyết những bất cập này, Thứ trưởng Bộ GĐĐT Bùi Văn Ga cho biết Bộ sẽ nghiên cứu, đề xuất việc sửa Nghị định 134 theo hướng khắc phục những bất cấp, hạn chế để nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu rồi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cụ thể, xem xét xây dựng cơ chế để bố trí việc làm cho sinh viên hệ cử tuyển theo hướng cho phép tuyển thẳng sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ĐH, CĐ vào biên chế, công chức mà không cần qua thi tuyển; địa phương cần bố trí vị trí công tác trước khi cử học sinh đi học.

Việc chọn ngành cho sinh viên cũng cần có sự tham gia của cơ sở đào tạo. Bộ GDĐT sẽ xây dựng cơ chế cho phép các trường tham gia xét tuyển học sinh cử tuyển để đảm bảo chất lượng học sinh đầu vào cho nguồn cử tuyển.

Đối với những địa phương thuộc Chương trình diện 30a không sử dụng hết tiêu chuẩn do khó khăn kinh phí, Bộ sẽ xem xét mở rộng vùng tuyển. Theo đó cho phép tăng tỷ lệ học sinh người Kinh từ 15 lên 30% để đảm bảo nguồn nhân lực được đào tạo cho các địa phương khó khăn.

Thứ trưởng Bùi Văn Ga khẳng định, tạo nguồn nhân lực cho các vùng sâu vùng xa, dân tộc ít người, vùng nghèo là chủ trương đúng đắn, cần thiết. Tuy nhiên đây là câu chuyện đường dài. 6 năm qua chúng ta đã đi đúng hướng và thu được nhiều kết quả thiết thực.

Bộ GDĐT sẽ tiếp tục bám sát, phối hợp, đồng hành với các địa phương, các trường để tạo điều kiện tốt nhất để con em đồng bào ít người có nhiều cơ hội được tiếp cận các dịch vụ giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc gia.

 6 năm qua, cả nước đã có 48/54 dân tộc thiểu số có con em được cử đi học.

Một số dân tộc có lượng học sinh cử tuyển khá đông như: Thái (15,7%), Khmer (12,46%), Hmông (8,04%).

Bên cạnh đó, do điều kiện khách quan khó khăn nên 6 năm qua một số dân tộc chỉ có dưới 10 học sinh cử tuyển như Co, Mảng, Rơ Măm, Cơ Lao, Gié-Triêng, Cống, Pà Thẻn, Lô Lô và 4 dân tộc chưa có sinh viên cử tuyển nào là Brâu, Ngái, Ở Đu, La Hủ.

 

 

 

 

 Nguyệt Hà