(Chinhphu.vn) - Hệ thống chính sách ASXH nước ta đang từng bước được hoàn thiện. Đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách được mở rộng. Tuy nhiên, do phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, chủ trương bảo đảm ASXH của Nhà nước cần tập trung vào một số nội dung cơ bản.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu là: “Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo”.

Trong điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước giai đoạn hiện nay, chủ trương bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) cần tập trung vào một số nội dung:

Phát triển hệ thống ASXH hướng tới toàn dân

Trước hết, cần rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người có công với cách mạng và ASXH, tăng cường hiệu quả và hiệu lực của hệ thống pháp luật.

Xây dựng và phát triển hệ thống ASXH đa dạng, nhiều tầng lớp, hướng tới bao phủ toàn bộ người dân. Chú trọng đến nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (người nghèo, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, người ốm đau, người dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc miền núi, lao động nông thôn, khu vực phi chính thức, người thất nghiệp, người bị ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro bất khả kháng khác...), bảo đảm mức sống tối thiểu cho người dân. Đồng thời, tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh.

Ưu tiên hỗ trợ các đối tượng yếu thế thông qua các chính sách hỗ trợ gián tiếp để phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Tăng cường chính sách trợ giúp trực tiếp đối với nhóm đối tượng không có khả năng tự bảo đảm an sinh.

Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện ASXH, đồng thời mở rộng sự tham gia của các đối tác xã hội thông qua các cơ chế khuyến khích, thu hút sự tham gia của các đối tượng vào cung cấp dịch vụ ASXH.

Bố trí kinh phí, nhân lực, tăng cường cơ sở vật chất, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực, phát huy vai trò và trách nhiệm của cá nhân, hộ gia đình, người lao động, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc thực hiện các mục tiêu ASXH.

Cần sửa đổi, bổ sung một số chính sách trợ giúp xã hội

Một số chính sách trợ giúp xã hội ban hành thời gian qua không còn phù hợp, điển hình như chính sách với người cao tuổi (NCT). Theo quy định tại Nghị định 06/2011/NĐ-CP, người từ đủ 80 tuổi trở lên mà không có lương, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp xã hội hằng tháng được hưởng mức trợ cấp 180.000 đồng/người/tháng (hệ số 1,0). Độ tuổi, mức trợ cấp bảo trợ xã hội đối với đối tượng này cần được sửa đổi cho phù hợp.

Bởi, những người từ 70 tuổi trở lên là nhân chứng lịch sử trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, do phải tham gia vào cuộc kháng chiến nên họ không có cơ hội tích lũy vật chất cho tuổi già, vì thế hiện nay đời sống gặp nhiều khó khăn.

Nếu do điều kiện kinh tế khó khăn chưa giải quyết được đồng loạt, Chính phủ có thể xem xét giải quyết trước cho những NCT ở miền núi, biên giới, biển đảo, NCT dân tộc ít người. Và độ tuổi nên giảm từ 80 tuổi theo quy định hiện nay xuống 75 tuổi.

Cả nước hiện còn gần 100.000 NCT chưa được hưởng chính sách bảo trợ xã hội của Nhà nước do họ không còn giấy tờ, hồ sơ liên quan. Vấn đề này, các bộ, ngành chức năng cần thống nhất có văn bản hướng dẫn là thực hiện được, bởi việc xác nhận độ tuổi, xác nhận không có lương hưu, không có trợ cấp BHXH, trợ cấp xã hội hằng tháng, xác nhận thuộc hộ nghèo đối với đối tượng NCT không khó khăn, phức tạp như đối tượng người có công. Càng chậm trễ thì càng nhiều NCT không có cơ hội được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước.

Việc giảm giá vé, giá dịch vụ cho NCT là chủ trương đúng đắn của Nhà nước. Tuy nhiên, để NCT được hưởng đầy đủ ưu đãi này thì cần thêm những chỉ đạo sát sao của các ngành chức năng. Ngoài ra, mô hình Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau được tổ chức quốc tế triển khai điểm ở nước ta đang là mô hình câu lạc bộ dành cho NCT hoạt động rất hiệu quả và đã được Chính phủ đưa vào chương trình hành động, đặt mục tiêu đến năm 2015 tăng thêm 2.000 câu lạc bộ  và năm 2020 tăng thêm 5.000 câu lạc bộ. Tuy nhiên, các bộ, ngành chức năng vẫn chưa đưa vào kế hoạch nên việc triển khai rộng khắp chưa được thực hiện.

Còn nhiều chính sách về NCT chưa được đưa vào cuộc sống. Các bộ, ngành chức năng cần quan tâm, phối hợp để triển khai thực hiện.

Thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp về giảm nghèo

Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững tại các huyện nghèo và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ đối với hộ cận nghèo.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ, lồng ghép các chương trình, chính sách hiện hành có điều chỉnh, như: Hỗ trợ lao động nghèo, người thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn; hỗ trợ dân cư nông thôn dễ dàng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản; tuyên truyền, hỗ trợ đối với  40% dân số nông thôn hiện nay chưa tham gia bảo hiểm y tế; bổ sung nhóm đối tượng nghèo kinh niên được hưởng chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên,

Vấn đề y tế cũng cần được quan tâm, đặc biệt là việc củng cố và tăng cường mạng lưới y tế cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới và hải đảo. Tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế theo hướng khuyến khích người cận nghèo và người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia; tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo hiểm y tế.

Ngoài ra, cần xây dựng mức sống tối thiểu, mức sống trung bình, chuẩn nghèo, cận nghèo phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ để làm cơ sở xác định các đối tượng, mức chuẩn của các chính sách ASXH.

Đổi mới nội dung hỗ trợ người nghèo, hoàn thiện việc theo dõi, giám sát và đánh giá các chương trình giảm nghèo; xã hội hóa nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo; nâng cao năng lực và điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ cơ sở để đáp ứng được yêu cầu công việc.

Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ các hộ nghèo về tiền điện và các chính sách mới ban hành để đảm bảo thực hiện chi trả tiền hỗ trợ cho hộ nghèo kịp thời, đúng đối tượng.

Tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Công tác xã hội nên được phát triển thành một nghề ở Việt Nam và có biện pháp tuyên truyền để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề này. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng, gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp.

Tăng cường khả năng tiếp cận các chính sách và dịch vụ cho các đối tượng dễ bị tổn thương; góp phần giúp đối tượng thoát nghèo, hoà nhập cộng đồng, xã hội và ổn định cuộc sống.

Tiếp tục ưu tiên nguồn lực của Nhà nước đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản; tăng cường sự tham gia của các đối tác xã hội trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản các đối tượng dễ bị tổn thương.

Phát triển các hình thức chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng gắn với hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp; nâng cao chất lượng đời sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Hỗ trợ người dân tham gia thị trường lao động

Tiếp tục hoàn thiện Luật Việc làm trình Quốc hội; rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động; triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Dạy nghề; cơ chế, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội;

Đồng thời, nghiên cứu thí điểm và tiến tới nhân rộng đề án chương trình việc làm công.

Có biện pháp theo dõi tình hình biến động lao động trong các doanh nghiệp, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, các dự án phải dừng, giãn tiến độ để có các giải pháp kịp thời tạo điều kiện cho người lao động mất việc nhanh chóng tìm được việc làm.

Đối với lao động đang làm việc ở nước ngoài, cũng cần theo dõi chặt chẽ tình hình để kịp thời đề xuất các giải pháp đảm bảo an toàn và quyền lợi cho người lao động.

Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, nâng cao năng lực dự báo và cung cấp thông tin thị trường lao động.

Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện tiền lương, thu nhập để người lao động bớt khó khăn trong điều kiện lạm phát, giá cả sinh hoạt tăng cao; giảm nguy cơ tranh chấp lao động.

Xây dựng một hệ thống chính sách tín dụng thống nhất trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi hiện hành.

Tập trung triển khai các Đề án dạy nghề hiện hành; triển khai các chương trình, dự án di dân, định canh, định cư cho người dân gắn với điều kiện cụ thể của các vùng, nhằm ổn định cuộc sống cho nhân dân, tạo điều kiện chuyển đổi nghề.

Hỗ trợ, mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật BHXH theo hướng đa dạng hóa các hình thức BHXH, khuyến khích nông dân và người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia; tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật về BHXH; hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả và bền vững của quỹ BHXH;

Tổ chức tốt việc thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm nhanh chóng đưa người lao động trở lại thị trường lao động. Từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo mục tiêu ASXH.

Thí điểm chính sách hỗ trợ nông dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp nhằm đảm bảo đời sống của người dân và duy trì sản xuất.

Nghiên cứu và hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện.

Nâng cao nhận thức và ý thức của người dân tham gia BHYT, đặc biệt chú trọng đối với nhóm người lao động trong khu vực phi chính thức, người dân sinh sống ở khu vực nông thôn.

Tăng cường tiếp cận dịch vụ BHYT, chất lượng dịch vụ y tế đối với người hưởng dịch vụ BHYT.

Để thực hiện tốt, gỡ vướng cho các chính sách ASXH, rất cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành chức năng, thống nhất văn bản hướng dẫn thực hiện. Định kỳ liên ngành cần phối hợp kiểm tra, đánh giá từ cơ sở để tham mưu đề xuất với Chính phủ sửa đổi, bổ sung những chính sách cho phù hợp, xử lý nghiêm minh những vi phạm.  

TS. Đàm Hữu Đắc

Nguyên Thứ trưởng Bộ LĐTBXH