(Chinhphu.vn) - Sau 20 năm đóng điện và đưa vào vận hành ổn định, hiệu quả (1994-2014), đường dây 500 kV mạch 1 là dấu ấn quan trọng của ngành Điện trong việc góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước.
Cuộc gặp gỡ giữa các thế hệ làm việc tại ĐD 500kV mạch 1. Ảnh: VGP/Toàn Thắng

Có dịp cùng đoàn đại biểu các đơn vị đã từng tham gia thiết kế, xây dựng, vận hành đường dây (ĐD) 500 kV mạch 1 tới thăm một số trạm biến áp (TBA) và những vị trí quan trọng của tuyến đường dây, tìm hiểu, trò truyện với những người có đóng góp trực tiếp ngay từ những ngày đầu khởi công, chúng tôi càng khâm phục tinh thần lao động bền bỉ, sáng tạo, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ của đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân ngành Điện Việt Nam với những kỳ tích trong việc khảo sát thiết kế, xây dựng lắp đặt và quản lý vận hành hiệu quả đường dây này.

Một quyết định lịch sử

Ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, nguyên Phó Tổng chỉ huy công trình ĐD 500 kV mạch 1 cho biết, những năm đầu của thập kỷ 90, miền Bắc thừa điện, trong khi công suất lắp đặt của miền Nam chỉ đáp ứng được 89,73%, miền Trung chỉ đáp ứng được 40,91% nhu cầu. Trước tình hình đó, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giao nhiệm vụ cho Bộ Năng lượng thiết kế ĐD 500 kV nhằm truyền tải lượng điện năng dư thừa từ miền Bắc cung cấp cho miền Nam.

Theo khảo sát, tính toán, ĐD này dài gần 1.500 km, xuất phát từ Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, qua Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng - Kon Tum - Gia Lai - Đắc Lắc - Đắc Nông - Bình Dương - Đồng Nai - Phú Lâm và TPHCM.

Anh hùng Lao động, Giáo sư, Viện sỹ Trần Đình Long cho hay thời điểm đó mới chỉ có một số nước trên thế giới sử dụng ĐD 500kV và chiều dài tối đa chỉ 600-700km. Điều lo ngại nhất là ĐD của ta dài trên 1.500 km nên đến điểm cuối, điện áp sẽ tăng vọt. Vì vậy, điều quan trọng là phải tính toán dao động tần số 1/4 bước sóng, thiết kế 5 trạm bù (bù ngang, bù dọc - bù điện cảm, điện dung) để tới cuối ĐD, điện áp vẫn không thay đổi.

Bên cạnh đó, mục tiêu đặt ra là phải chọn được "lối đi" ngắn nhất, đi qua địa hình rừng núi, hiểm trở để giảm tối đa giải tỏa đền bù. Vì vậy, hướng tuyến phải bám quốc lộ 14, dọc theo dãy Trường Sơn. Việc thi công, phát tuyến hành lang rất khó khăn, vất vả do địa hình hiểm trở, qua nhiều rừng già. Một số ý kiến cho rằng  thời gian thi công sẽ không dưới 8 năm, thế nhưng Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã yêu cầu phải hoàn thành trong 2 năm: Khởi công năm 1992, kết thúc năm 1994 để vận hành đồng bộ với Nhà máy Thủy điện Hòa Bình.

Thời điểm đó, việc xây dựng ĐD 500kV cũng đã phái trải qua một cuộc "trắc nghiệm" trước những ý kiến cho rằng dự án không mang tính khả thi và quá mạo hiểm.

Chính phủ đã tổ chức đưa hàng chục nhà khoa học và nhiều đoàn công tác lên vị trí 375 trên đèo Hải Vân để các đại biểu tận mắt chứng kiến việc thi công, dựng cột trên núi. Lúc đó, mọi nghi ngại mới được hóa giải.

Huy động tổng lực cho đường dây

Với phương châm vừa thiết kế vừa thi công, lực lượng thiết kế chính được giao tính toán các cột gốc, cột néo, còn cột trung gian, đơn vị xây lắp phải tự làm. Lực lượng thi công lúc đó chỉ có 4 công ty xây lắp điện. Việc cung ứng vật liệu thi công cũng rất khó khăn vì khi đó cả nước mới chỉ có 3 nhà máy xi măng (Hải Phòng, Bỉm Sơn, Hà Tiên).

Riêng phần cột điện, 60% phải nhập từ Ukraine, còn 40% sản xuất trong nước. Toàn bộ dây dẫn, thiết bị trạm, phụ kiện, cáp quang đều nhập từ Ukraine, Pháp, Nhật Bản...

Để đảm bảo tiến độ, các công ty xây lắp tổ chức thành các tổng đội để giao khoán công việc; các tổng đội lại chia thành các đội, nhóm để quản lý.

Hàng vạn chiến sĩ quân đội (chủ yếu là lực lượng ở Quân khu 3,4,7, Quân đoàn 3, Binh đoàn Trường Sơn, lực lượng của tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắc) được huy động tham gia phát tuyến hành lang. Bộ Công an huy động lực lượng bảo vệ trang thiết bị, vật tư, phương tiện và công tác thi công, còn các địa phương tự phụ trách, bảo vệ địa bàn của mình.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đó, đã đích thân giao Bộ Tài chính phải đảm bảo kinh phí, không được để chậm trễ công tác đền bù. Gần 7.000 lao động địa phương của các tỉnh, thành phố có ĐD đi qua được huy động đào đất, đục đá, gùi cát sỏi, xi măng lên đỉnh cột. Lúc cao điểm, toàn tuyến có hàng chục vạn người tham gia. Công nhân lành nghề làm nhiệm vụ hướng dẫn kĩ thuật. Những nơi địa hình heo hút, hiểm trở, điều kiện khí hậu khắc nghiệt không thể đưa máy móc thiết bị vào thi công thì phải dựa vào sức người là chính.

Để xây dựng ĐD 500 kV mạch 1, các đơn vị phải khảo sát khoảng 2.000 km để đo vẽ địa hình lập mặt cắt dọc; khoan thăm dò 5.200m ở các vị trí có nguy cơ sạt lở; thí nghiệm khoảng 15.000 mẫu đất đá; rà phá bom mìn khoảng 17.000 ha; đào đúc và lắp dựng 3.437 cột tháp sắt; căng 1.487km dây dẫn; xây dựng 22 trạm lặp cáp quang, 19 chốt vận hành ĐD; đổ 280.000m3 bê-tông móng với 23.000 tấn cốt thép, 60.000 tấn cột điện, lắp đặt 23.000 tấn dây dẫn và 930 tấn dây chống sét; 6.300 tấn cách điện.

Tổng chi phí đầu tư cho công trình khoảng 5.488,39 tỷ đồng (tương đương 544 triệu USD).

Trên công trường, không kể thời tiết, địa hình khó khăn, gian nan vất vả, thậm chí nhiều cán bộ, kỹ sư, công nhân, chiến sỹ lực lượng vũ trang và người dân đã ngã xuống vì ĐD này. Tuy nhiên, không ai nản lòng, tất cả chỉ hướng tới mục tiêu duy nhất: Bảo đảm tiến độ, chất lượng và an toàn đường dây siêu cao áp đầu tiên của đất nước.

ĐD 500 kV mạch 1 đã nhận được sự quan tâm đặc biệt, sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ông thường xuyên kiểm tra sát thực địa, đơn vị nào khó khăn, ông trực tiếp chỉ đạo tìm cách tháo gỡ; địa phương nào gặp khó trong việc đền bù, ông giao thời hạn phải hoàn thành cho chính quyền địa phương.

Rồi nhờ chính sách động viên tích cực, thưởng nóng kịp thời ngay tại công trường nên các hạng mục đều theo đúng tiến độ.

Đúng 19h6’ ngày 27/5/1994, tại Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh hòa hệ thống điện miền Nam với 4 tổ máy của Nhà máy Thủy điện Hòa Bình tại trạm Đà Nẵng qua ĐZ 500kV, chính thức đưa hệ thống 500kV vào vận hành.

Có thể nói, sự kiện này đã ghi đậm dấu ấn với những kỳ tích lao động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn của ngành Điện lực Việt Nam nói riêng và sự góp công góp sức của các bộ, ngành, địa phương liên quan trong việc thi công, xây dựng đường dây siêu cao áp đầu tiên, góp phần đảm bảo nguồn điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hiệu quả kinh tế - xã hội

Ông Đặng Phan Tường, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVN NPT) khẳng định, giá trị kinh tế - xã hội của ĐD mạch 1 rất to lớn. Đây là đường dây có chi phí thấp hơn 225 tỷ đồng so với tổng  kinh phí dự toán. Công trình đã được khấu hao toàn bộ giá trị xây dựng và quyết toán vào năm 2000.

Đã 20 năm qua, đến nay ĐD vẫn vận hành an toàn, hiệu quả, góp phần rất lớn bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thu hút đầu tư. Năm 2005, ĐD 500 kV mạch 2 tiếp tục hoàn thành góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện lớn ở miền Bắc và Hà Nội giai đoạn 2005-2008.

Hiện nay, ĐD 500 kV mạch 1 do 4 công ty truyền tải quản lý vận hành, đó là: Công ty Truyền tải điện 1 (PTC1) quản lý vận hành 955 vị trí (từ 001 đến 955), dài 406 km, từ Lào Cai đến Hà Tĩnh và các trạm biến áp 500 kV Hoà Bình, Hà Tĩnh. PTC2 quản lý vận hành 1352 vị trí (từ 955 đến 2307), dài 587 km, và Trạm biến áp 500 kV Đà Nẵng. PTC3 quản lý vận hành 708 vị trí (từ 2308 đến 3015), dài 314,5 km và Trạm biến áp 500 kV Pleiku. PTC4 quản lý vận hành 421 vị trí (từ 3015 đến 3436, dài 183 km và Trạm biến áp 500 kV Phú Lâm.

Về mặt kỹ thuật, đường dây 500kV Bắc - Nam mạch 1 hợp nhất hệ thống điện 3 miền (trước đây vận hành độc lập), nhờ đó tăng cường được sự hỗ trợ qua lại thế mạnh của hệ thống điện giữa các miền và tăng tính ổn định, độ tin cậy chung của toàn hệ thống.

Tiếp nối những thành công đó, ĐD 500 kV mạch 3  Pleiku - Mỹ Phước - Cầu Bông đã  đóng điện thành công và đi vào hoạt động trong những ngày đầu tháng 5 này sẽ đảm bảo cung ứng điện cho miền Nam trong mùa khô 2014 và những năm tiếp theo, tạo ra mạch vòng 500kV khép kín, đảm bảo vận hành thông suốt, an toàn đường dây truyền tải điện quốc gia từ Bắc vào Nam.

Toàn Thắng