(Chinhphu.vn) - Trong 40 năm qua kể từ ngày giải phóng (1975-2015), quân và dân tỉnh Quảng Nam đã nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển sản xuất và thực hiện tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, cùng cả nước vững bước trên con đường Đổi mới mà Đảng đã vạch ra.


Ông Lê Phước Thanh.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam (24/3/1975- 24/3/2015), phóng viên Cổng TTĐT Chính phủ khu vực miền Trung-Tây Nguyên đã có cuộc phỏng vấn Bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh về sự kiện có ý nghĩa trọng đại này.

Thưa ông, kể từ sau ngày giải phóng, tỉnh Quảng Nam đứng trước nhiều thách thức trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế-xã hội vì hậu quả chiến tranh rất nặng nề. Xin ông đánh giá những thành tựu nổi bật mà Quảng Nam đã đạt được trong 40 năm qua?

Ông Lê Phước Thanh: Sau ngày giải phóng, hậu quả chiến tranh với tỉnh Quảng Nam là rất lớn. Trên địa bàn, 2/3 ruộng đồng bị hoang hóa; trong số 947.900 người dân, tỷ lệ mù chữ lên tới 22%; cơ sở hạ tầng sản xuất, giáo dục, y tế nghèo nàn...

Vì vậy, bắt tay vào công cuộc xây dựng lại quê hương, trong 10 năm đầu (1975-1985), Quảng Nam tập trung quyết liệt cho phát triển sản xuất nông nghiệp.

Với 238 HTX nông nghiệp (chiếm gần 93% hộ nông dân), nhân dân tỉnh Quảng Nam đã khai hoang, làm thủy lợi… Công trình hồ Phú Ninh hoàn thành vào năm 1985 là niềm tự hào của người dân Quảng Nam khi cung cấp nước tưới cho hơn 20.000 ha lúa vùng phía Nam của tỉnh. Nhờ đó, năm 1985 sản lượng lương thực có hạt đạt 358.000 tấn, gấp 3,6 lần năm 1975. Công nghiệp bắt đầu được xây dựng. Thương nghiệp phát triển với 116 HTX mua bán.

Bước vào công cuộc Đổi mới (từ năm 1986), tỉnh đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn; chuyển đổi thời vụ (từ 3 vụ lúa sang 2 vụ ăn chắc); phát triển kinh tế tư nhân… nên nền kinh tế của tỉnh phục hồi và phát triển khởi sắc.

Sau 20 năm giải phóng (1975-1995), quy mô kinh tế của tỉnh tăng gấp 4,8 lần so với trước.

Năm 1997 là năm tái lập tỉnh Quảng Nam. Từ dấu mốc này, tỉnh đã lựa chọn đột phá ở lĩnh vực công nghiệp nhằm tạo động lực cho phát triển.

Nhờ đó, 18 năm qua (1997-2014), tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) tăng bình quân 11,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng nông nghiệp trong GRDP giảm từ 48% năm 1997 xuống còn dưới 17% vào cuối 2014; công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng lên trên 83%. GRDP bình quân đầu người từ 2,1 triệu đồng (năm 1997) đã đạt 35 triệu đồng vào cuối năm 2014.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 650 triệu USD, tăng 108 lần so với năm 1997 (6 triệu USD); thu ngân sách trên địa bàn năm 2014 đạt 9.068 tỷ đồng, tăng gấp 16 lần so với năm 1997 (trong đó thu nội địa đạt 6.177 tỷ đồng, tăng gần 40 lần)…

Thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá chiến lược, tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp tích cực để cải thiện môi trường đầu tư, huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Đến nay, trong Khu kinh tế mở Chu Lai đã có 93 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 1,5 tỷ USD, trong đó có 65 dự án đã đi vào hoạt động. KCN Điện Nam-Điện Ngọc thu hút 53 dự án đầu tư, với 45 dự án đã hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra các khu, cụm công nghiệp khác của tỉnh đã thu hút được 174 dự án đầu tư với tổng vốn 4.280 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 18.000 lao động.

Công tác giảm nghèo đạt được kết quả quan trọng, đến cuối năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 12,1%.

Tính đến cuối năm 2014, toàn tỉnh đã có 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới; phấn đấu đến cuối năm 2015 có 50 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 20% số xã trong toàn tỉnh).

Công trình thủy lợi Phú Ninh. Ảnh: VGP/Minh Hùng

Quảng Nam là một trong những địa phương bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhất, trong đó, có hàng vạn con em đã hy sinh anh dũng trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Tỉnh cũng là địa phương có nhiều đối tượng chính sách, nhiều mẹ Việt Nam anh hùng nhất nước. Xin ông cho biết những nỗ lực của Quảng Nam trong công tác đền ơn đáp nghĩa?

 Ông Lê Phước Thanh: Từ sau ngày giải phóng đến nay, toàn tỉnh đã xác nhận trên 65.000 liệt sĩ với trên 135.000 thân nhân; trên 30.000 thương bệnh binh; gần 45.000 người có công; trên 6.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; trên 33.500 người tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương; trên 5.000 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học... Đặc biệt, đến nay toàn tỉnh có 11.234 bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Việc giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân được thực hiện kịp thời, nhất là các chính sách mới được ban hành. Kinh phí chi trả trợ cấp ưu đãi người có công khoảng 1.200 tỷ đồng/năm, trong đó trợ cấp thường xuyên khoảng 912 tỷ đồng và trợ cấp 1 lần khoảng 288 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, công tác chăm sóc thân nhân gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công cũng đạt nhiều kết quả. Đến nay, có 97,28% hộ chính sách trong tỉnh có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân cùng địa bàn.

Việc chăm sóc sức khoẻ đối với người có công và thân nhân được quan tâm thực hiện. Trong những năm gần đây, mỗi năm, tỉnh tổ chức điều dưỡng cho gần 20.000 lượt người có công. Ngoài ngân sách Nhà nước, nhiều cơ quan, đơn vị đã tổ chức thăm khám sức khoẻ, cấp thuốc điều trị chữa bệnh cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh...

Từ năm 1997 đến năm 2014, bằng nhiều chương trình, đề án toàn tỉnh đã vận động trên 768 tỷ đồng để xây tặng nhà tình nghĩa và hỗ trợ xây mới trên 24.291 nhà với tổng kinh phí 499,2 tỷ đồng...

Như vậy, tính từ năm 1976 đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện hỗ trợ cải thiện nhà ở người có công với cách mạng cho trên 46.000 trường hợp, với tổng kinh phí trên 818 tỷ đồng.

Trong những năm qua, ngoài kinh phí hỗ trợ của Trung ương, tỉnh đã huy động trên 205 tỷ đồng nâng cấp hoàn chỉnh gần 40 nghĩa trang liệt sĩ, xây 70 đài tưởng niệm ở nghĩa trang liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ và nhiều công trình ghi công liệt sĩ khác; sửa chữa, tôn tạo được 69.801 lượt mộ liệt sỹ (trong đó: 52.207 mộ trong NTLS). Tổ chức tìm kiếm quy tập hơn 700 hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang liệt sỹ huyện, thành phố, hơn 100 hài cốt liệt sĩ được đưa vào nghĩa trang gia tộc; di chuyển 532 hài cốt liệt sĩ trên địa bàn tỉnh về nguyên quán.

Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng. Ảnh: VGP/Minh Hùng

Để tri ân sự hi sinh to lớn của các bà mẹ có chồng con hy sinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Quảng Nam được vinh dự trao nhiệm vụ xây dựng “Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Xin ông đánh giá sự kiện có ý nghĩa nhân văn cao cả này?

Ông Lê Phước Thanh: Tri ân sự hy sinh to lớn của các anh hùng, liệt sỹ, các mẹ Việt Nam anh hùng, tháng 11/2007, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định đưa công trình “Tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” vào danh sách các công trình văn hoá cấp quốc gia. Tiếp đó, tháng 5/2008, Thủ tướng Chính phủ có văn bản chỉ đạo tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện công trình Tượng đài. Ngày 27/7/2009, vào dịp kỷ niệm 62 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, lễ động thổ xây dựng Tượng đài (tại Núi Cấm, xã Tam Phú, TP. Tam Kỳ) đã được tiến hành.

Tượng đài lấy nguyên mẫu mẹ Nguyễn Thị Thứ - bà mẹ Việt Nam Anh hùng tiêu biểu nhất, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, bà mẹ có tới 11 người con và cháu là liệt sĩ.

Khu Tượng đài là một công trình lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và cả tâm linh mang tính quốc gia; được các cấp, các ngành, các địa phương và nhân dân quan tâm kể từ khi lên ý tưởng đến quá trình thi công xây dựng. Địa điểm Tượng đài nằm ở vùng trung điểm của cả nước, giao thông thuận lợi cho việc đi lại thăm viếng của nhân dân cả nước.

Ngày 24/3 tới, đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam (24/3/1975 - 24/3/2015), công trình Tượng đài mẹ Việt Nam Anh hùng chính thức được khánh thành sau gần 6 năm thi công.

Năm 2015, năm có nhiều sự kiện chính trị trọng đại của Quảng Nam cũng như của cả nước, trong đó có việc tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng nhằm đề ra nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn mới. Đối với Quảng Nam, những mục tiêu của năm 2015 và những năm tiếp theo là gì thưa ông?

Ông Lê Phước Thanh:  Quảng Nam đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản xây dựng nền tảng vững chắc để tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Để thực hiện nhiệm vụ hiệu quả nhất, trước hết, tỉnh ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển, tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó chú trọng hỗ trợ DN nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ. Nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư; chú trọng hỗ trợ DN phát triển thị trường xuất khẩu, phát triển thị trường nội địa. Thực hiện tốt thu ngân sách, tiết kiệm chi ngân sách để dành nguồn lực cho phát triển.

Hai là, thực hiện tốt các giải pháp về tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, theo đó, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHKT và đổi mới công nghệ, phát triển kinh tế xanh; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của sản phẩm và nền kinh tế. Hoàn thành sắp xếp, đổi mới DN Nhà nước giai đoạn 2011-2015 theo lộ trình của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Triển khai thực hiện chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch...

Tỉnh sẽ tập trung phát triển 3 nhóm ngành công nghiệp (chế biến, chế tạo; điện tử-viễn thông; năng lượng mới và năng lượng tái tạo).

Ba là, tiếp tục tập trung các nguồn lực đầu tư thực hiện có hiệu quả 3 nhiệm vụ đột phá. Cụ thể là thúc đẩy hoàn thành các dự án trọng điểm (cầu Cửa Đại, mở rộng Quốc lộ 1A; đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi, đoạn qua Quảng Nam; dự án điện lưới quốc gia ra Cù lao Chàm, khởi công xây dựng cầu Giao Thủy). Ưu tiên tăng nguồn vốn đầu tư phát triển ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; phát triển hạ tầng thuỷ lợi, phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thực hiện hiệu quả Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm mới, chuyển dịch cơ cấu lao động và xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tạo thuận lợi cho người dân và DN.

Bốn là triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu, chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, miền núi. Tiếp tục huy động nguồn lực để thực hiện chương trình hỗ trợ huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới phù hợp với điều kiện cụ thể và nguồn lực của từng địa phương, phấn đấu đến cuối năm 2015 hoàn thành 50 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 xuống còn dưới 9,5%.

TP. Tam Kỳ sau 40 năm giải phóng. Ảnh: Cổng TTĐT TP Tam Kỳ

Năm là, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó, tập trung giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; phấn đấu trong năm 2015 có 83% KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; giải quyết vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

Đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường biển, vùng ven biển, đảo; bảo vệ và phát triển rừng; bảo vệ và phát huy khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm. Quản lý tốt lĩnh vực tài nguyên khoáng sản.

Sáu là, tiếp tục thực hiện tốt chương trình tổng thể cải cách hành chính; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, tập trung giải quyết dứt điểm những vụ việc tồn đọng, kéo dài. Tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí.

Bảy là, đảm bảo quốc phòng và an ninh, tăng cường công tác đối ngoại. Tiếp tục thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia. Tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Quảng Nam với tỉnh Se Koong (Lào) và các tỉnh, thành thuộc các quốc gia, vùng lãnh thổ khác. Quản lý chặt chẽ và đẩy nhanh tiến độ các dự án về quản lý biên giới, các dự án thuộc chương trình Biển Đông-Hải đảo. Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Lê Minh Hùng (thực hiện)