(Chinhphu.vn) - Ông Nguyễn Tâm (tamnguyen19862012@...) làm việc cho 1 công ty nước ngoài, hỏi: Nhân viên làm việc tại công ty phải đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) dựa trên lương cơ bản của công ty trả hay bao gồm tất cả tiền thưởng, tiền phép năm và tiền làm việc tăng ca?

Vấn đề ông Tâm hỏi, Luật sư Lê Văn Đài, Trưởng Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương

Thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công quy định tại khoản 2, Mục II, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN như sau:

Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công là các khoản thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền, bao gồm: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; Các khoản phụ cấp, trợ cấp kể cả sinh hoạt phí mà người lao động nhận được, trừ một số khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định tại điểm 2.2 Mục II Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

Các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động, cụ thể như sau: Tiền nhà ở, tiền điện, nước và các loại dịch vụ khác kèm theo. Tiền mua bảo hiểm đối với các hình thức bảo hiểm mà pháp luật không quy định trách nhiệm bắt buộc người sử dụng lao động phải mua cho người lao động. Các khoản phí hội viên phục vụ cho cá nhân như: thẻ hội viên sân gôn, sân quần vợt, thẻ sinh hoạt các câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Các dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ.

Các khoản thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất, thưởng tháng lương thứ 13 bằng tiền hoặc không bằng tiền (kể cả thưởng bằng chứng khoán) trừ một số khoản tiền thưởng quy định tại điểm 2.3 Mục II Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC nêu trên.

Các khoản được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương

Theo hướng dẫn tại điểm 2.2 khoản 2, Mục II, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC, các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương bao gồm:

Các khoản phụ cấp theo quy định của Bộ luật Lao động (Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; Phụ cấp thu hút đối với vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và đảo xa đất liền có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn;  Phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật đối với người làm việc ở vùng xa xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu).

Các khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động (Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp một lần khi sinh con, nhận con nuôi; Trợ cấp do suy giảm khả năng lao động; Trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng; Các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp; Các khoản trợ cấp khác do BHXH trả).

Điều 1 Thông tư 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính bổ sung vào Điểm 2.2, Khoản 2, Mục II, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC khoản tiền ăn giữa ca không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động nếu người sử dụng lao động trực tiếp tổ chức bữa giữa ca cho người lao động.

Trường hợp, đơn vị chi trả thu nhập không trực tiếp tổ chức bữa ăn ca mà chi tiền ăn ca trực tiếp cho người lao động thì không tính vào thu nhập chịu thuế thuế của người lao động nếu mức chi phù hợp với hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Trường hợp chi cao hơn mức hướng dẫn thì phần chi vượt mức phải tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.

Các khoản tiền thưởng được trừ khi tính thu nhập chịu thuế từ tiền lương được quy định tại điểm 2.3 khoản 2, Mục II, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC bao gồm: Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng bao gồm cả tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng; Tiền thưởng kèm theo các giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước Việt Nam thừa nhận; Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận; Tiền thưởng về phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khoản thu nhập được miễn thuế                   

Theo quy định tại khoản 9, Mục III, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC, khoản thu nhập được miễn thuế là thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Vấn đề ông Nguyễn Tâm hỏi, căn cứ các quy định nêu trên thì thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương là các khoản thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, trong đó có tiền lương tháng; các khoản thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất, thưởng tháng lương thứ 13; tiền lương nghỉ phép. Riêng phần chênh lệch tiền lương do phải làm thêm giờ, làm đêm cao hơn so với mức tiền lương tính theo ngày làm việc bình thường được miễn thuế.

Luật sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.