(Chinhphu.vn) - Ông Nguyễn Hữu Luận (nguyenhuuluan1967@...) là cán bộ chuyên trách xã, giữ chức vụ Phó Bí thư Đảng ủy. Ông Luận muốn được giải đáp về việc xếp lương theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ đối với trường hợp của ông.

Năm 1989, ông Luận tốt nghiệp trung cấp ngành hàn 3/7. Năm 1995, ông tham gia công tác tại UBND xã, là cán bộ trong biên chế với chức danh Ủy viên UBND xã. Đến năm 1999, ông tốt nghiệp Trung cấp Chính trị và được bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy xã từ năm 2005 đến nay. Ông Luận hỏi, theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ông được xếp lương như thế nào là đúng?

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội giải đáp trường hợp của ông Luận như sau:

Ngày 27/5/2010, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên ở cấp xã.

Xếp lương cán bộ cấp xã tốt nghiệp trung cấp trở lên

Khoản 2, Điều 2 Thông tư 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH quy định, việc xếp lương đối với cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thì thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, cụ thể:

a. Cán bộ cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đại học trở lên xếp lương theo ngạch chuyên viên (mã số 01.003); tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cao đẳng xếp lương theo ngạch chuyên viên (cao đẳng) (mã số 01a.003); tốt nghiệp trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trung cấp xếp lương theo ngạch cán sự (mã số 01.004).

Văn bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bằng.

b. Trường hợp đã có bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ trước ngày 1/1/2010 và đã được xếp lương chức vụ quy định tại bảng lương số 5 ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, thì được căn cứ vào từng thời điểm trong thời gian công tác có đóng BHXH (nếu có thời gian đóng BHXH đứt quãng mà chưa được tính hưởng chế độ BHXH thì được cộng dồn) đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để xếp vào bậc lương theo ngạch công chức hành chính theo nguyên tắc sau:

Cứ sau mỗi khoảng thời gian 3 năm (đủ 36 tháng) đối với ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên (cao đẳng) và cứ sau mỗi khoảng thời gian 2 năm (đủ 24 tháng) đối với ngạch cán sự được xếp lên 1 bậc lương trong ngạch được xếp. Trường hợp trong thời gian công tác có năm không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc bị kỷ luật (khiển trách hoặc cảnh cáo) thì cứ mỗi năm không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc cứ mỗi lần bị kỷ luật bị trừ 6 tháng; nếu bị kỷ luật cách chức thì cứ mỗi lần bị kỷ luật bị trừ 12 tháng; nếu có năm vừa không hoàn thành nhiệm vụ được giao, vừa bị kỷ luật thì thời gian bị trừ của năm đó cũng chỉ tính theo thời gian bị trừ của hình thức bị kỷ luật.

Sau khi quy đổi thời gian để xếp vào bậc lương theo ngạch công chức được xếp nêu trên, nếu có số tháng chưa đủ 36 tháng đối với ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên (cao đẳng) hoặc chưa đủ 24 tháng đối với ngạch cán sự, thì số tháng này được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương lần sau theo ngạch được xếp.

Trường hợp được tính xếp vào bậc lương cuối cùng trong ngạch mà vẫn còn thừa thời gian công tác thì thời gian công tác còn thừa này được tính hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung, cụ thể sau 3 năm (đủ 36 tháng) đối với ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên (cao đẳng) và sau 2 năm (đủ 24 tháng) đối với ngạch cán sự được tính hưởng 5%, cứ mỗi năm tiếp theo được tính hưởng thêm 1%.

Thời điểm tính xếp vào hệ số lương bậc 1 của ngạch

Căn cứ vào nguyên tắc nêu trên, việc chuyển xếp từ lương chức vụ đã hưởng theo bảng lương số 5 ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP sang lương theo ngạch, bậc công chức hành chính thực hiện như sau:

Trường hợp trong suốt thời gian công tác không có thay đổi về trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ thì kể từ ngày tham gia công tác được tính xếp vào hệ số lương bậc 1 của ngạch công chức hành chính quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Thông tư 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTBXH. Thời gian công tác sau đó được tính xếp lên bậc lương cao hơn trong ngạch theo nguyên tắc quy định tại điểm b khoản 2 nêu trên.

Trường hợp trong thời gian công tác có thay đổi về trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ: Nếu chưa có trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ kể từ ngày tham gia công tác, sau đó mới tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (lần đầu) thì kể từ ngày được cấp văn bằng tốt nghiệp được tính xếp vào hệ số lương bậc 1 của ngạch công chức hành chính quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; thời gian công tác sau đó được tính xếp lên bậc lương cao hơn trong ngạch theo nguyên tắc quy định tại điểm b. Nếu có thay đổi trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ từ 2 lần trở lên thì được xếp lương tương ứng với từng khoảng thời gian có thay đổi trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ.

Trường hợp ông Nguyễn Hữu Luận hỏi về việc xếp lương đối với ông, theo thông tin do ông Luận cung cấp thì năm 1989 ông tốt nghiệp trung cấp ngành hàn 3/7. Năm 1995 ông tham gia công tác tại UBND xã, là ủy viên UBND xã. Năm 1999, ông tốt nghiệp trung cấp chính trị. Năm 2005, ông được bầu là phó bí thư đảng ủy xã cho đến nay.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì trình độ đào tạo, văn bằng đào tạo làm căn cứ xếp lương phải phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ của từng chức danh cán bộ, công chức cấp xã. Luật sư cho rằng, văn bằng mà ông Luận được cấp năm 1989 là văn bằng hệ công nhân kỹ thuật ngành hàn bậc 3/7 do trường trung cấp kỹ thuật  đào tạo và văn bằng này có chuyên môn đào tạo không phù hợp với các chức danh ông Luận đã đảm nhiệm tại UBND xã, do vậy không được sử dụng làm căn cứ tính xếp hệ số lương bậc 1 ngạch cán sự cho ông vào thời điểm bắt đầu tham gia công tác tại UBND xã.

Căn cứ quy định tại điểm 2, Mục I và điểm 3, Mục II Quy định số 12/QĐ/TC-TTVH ngày 9/1/2004 của Ban Tổ chức Trung ương và Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đảng về việc xác định trình độ lý luận chính trị thì những người đã tốt nghiệp hoặc đã học xong chương trình trung học chính trị được áp dụng để xem xét, đánh giá, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, nâng ngạch cán bộ, công chức nói chung theo quy định của Đảng và Nhà nước. Theo đó, văn bằng trung cấp chính trị của ông Luận được dùng làm căn cứ chuyển xếp lương công chức hành chính. Kể từ ngày ông Luận được cấp bằng trung cấp chính trị, ông được tính xếp hệ số lương bậc 1 ngạch cán sự.

Thông tin do ông Luận cung cấp còn chưa rõ về quá trình hưởng lương và tham gia BHXH từ năm 1995 đến nay; cho đến thời điểm này ông Luận đã được xếp lương công chức hành chính chưa, hay đang hưởng lương cán bộ cấp xã, hệ số lương ông đang hưởng là bao nhiêu? Nhưng theo luật sư, ông Luận thuộc diện cán bộ cấp xã được chuyển xếp lương công chức hành chính.

Thời điểm ông tốt nghiệp trung cấp chính trị năm 1999 là thời điểm được chuyển xếp bậc 1/12 ngạch cán sự (hệ số 1,86); nếu toàn bộ quá trình công tác ông Luận đều hoàn thành nhiệm vụ và không bị kỷ luật, thì cứ sau mỗi khoảng thời gian 2 năm (đủ 24 tháng) ông được xếp lên 1 bậc lương trong ngạch cán sự được xếp. Tính đến năm 2011, ông Luận được hưởng lương bậc 7/12 ngạch cán sự hệ số 3,06. Đến năm 2013, ông được xét nâng bậc 8/12, hệ số 3,26.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.

Tin, bài liên quan:

>> Xếp lương cán bộ cấp xã giữ chức vụ lãnh đạo

>> Việc chuyển xếp lương với cán bộ cấp xã

>> Xếp lương cán bộ công chức cấp xã có trình độ từ trung cấp trở lên