(Chinhphu.vn) - Việc miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với tổ chức kinh tế; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất do Cục trưởng Cục thuế quyết định, còn đối với hộ gia đình, cá nhân do Chi cục trưởng Chi cục thuế quyết định.

Tại Điều 16 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê mặt đất, mặt nước quy định: Cơ quan thuế căn cứ vào hồ sơ địa chính kèm theo giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước để xác định số tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp, số tiền thuê đất, thuê mặt nước được miễn, giảm.

Cục trưởng Cục thuế quyết định miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với tổ chức kinh tế; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất.

Chi cục trưởng Chi cục thuế quyết định miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với hộ gia đình, cá nhân thuê đất.

Tại điểm 3 mục IX Thông tư số 141/2007/TT-BTC ngày 30/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP nêu trên có quy định cơ quan thuế kiểm tra và ra quyết định miễn/giảm tiền thuê đất theo thẩm quyền quy định, hoặc cơ quan thuế kiểm tra và ra thông báo tạm miễn, tạm giảm tiền thuê đất sau đó quyết toán số thực miễn, thực giảm và ra quyết định miễn/giảm theo thẩm quyền quy định.

Căn cứ các quy định trên đây, Tổng cục Thuế khẳng định, việc xác định và ra quyết định miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước do cơ quan thuế thực hiện. Thẩm quyền quyết định miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước thực hiện theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ.

Ban Bạn đọc