(Chinhphu.vn) - Ông Hoàng Việt Quang hỏi: Tôi hiện đang công tác tại Hải Phòng, nhưng chưa chuyển hộ khẩu. Tôi có 1 mảnh đất tại Hải Phòng (đất đã có sổ đỏ) nhưng vẫn đang ở nhà thuê. Vậy tôi đã đủ điều kiện được nhập hộ khẩu về Hải Phòng chưa? Thủ tục ra sao?

Câu hỏi của ông Quang được luật sư Lê Văn Đài, Trưởng văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Điều kiện đăng ký thường trú

Tại khoản 4, Điều 1 Nghị định 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 của Chính phủ  sửa đổi bổ sung Điều 7 Nghị định 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 quy định công dân đang tạm trú nếu có đủ các điều kiện dưới đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương:

- Có chỗ ở hợp pháp tại thành phố trực thuộc Trung ương và tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ một năm trở lên;

- Nơi đề nghị được đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú.

Thời hạn tạm trú được tính từ ngày công dân đăng ký tạm trú đến ngày công dân nộp hồ sơ đăng ký thường trú.

Giấy tờ chứng minh thời hạn tạm trú là một trong các giấy tờ sau đây:

- Sổ tạm trú cấp cho hộ gia đình hoặc cấp cho cá nhân theo mẫu quy định của Bộ Công an;

- Xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn về thời gian và nơi đăng ký tạm trú (đối với trường hợp đăng ký tạm trú nhưng không cấp sổ tạm trú).

Hồ sơ đăng ký thường trú

Theo quy định tại khoản 1, Điều 6 Thông tư số 52/2010/TT-BCA ngày 30/11/2010 của Bộ Công an quy định chi tiết một số điều của Luật cư trú, Nghị định 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 và Nghị định 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú, thì hồ sơ đăng ký thường trú, bao gồm:

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

- Bản khai nhân khẩu;                                           

- Giấy chuyển hộ khẩu (đối với việc chuyển đi ngoài phạm vi xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh. Trong trường hợp này, Trưởng Công an xã, thị trấn có thẩm quyền ký giấy chuyển hộ khẩu cho cả trường hợp chuyển ra ngoài phạm vi xã, thị trấn của huyện thuộc tỉnh và ngoài phạm vi tỉnh).

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP, trừ trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình.

- Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà ở do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở của mình phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm (trường hợp trong văn bản cho thuê, mượn, ở nhờ đã nêu rõ nội dung đồng ý cho đăng ký thường trú vào nhà thuê, mượn, ở nhờ thì không cần ý kiến của chủ vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu).

- Đối với chỗ ở là nhà ở do thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thì diện tích cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ phải ghi rõ trong hợp đồng, bảo đảm diện tích tối thiểu là 5m2 sàn/1 người. Diện tích sàn được hiểu và thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở.

- Công dân khi làm thủ tục đăng ký thường trú phải xuất trình bản chính giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp, nộp bản sao cho cơ quan đăng ký cư trú. Cán bộ tiếp nhận hồ sơ phải kiểm tra, ghi vào bản sao đã đối chiếu với bản chính là đúng (ký, ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm kiểm tra).

Trường hợp ông Hoàng Việt Quang, đã nhận chuyển nhượng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng chỗ ở của ông không phải là nơi ông có đất.

Chỗ ở hiện nay của ông Quang là nhà ở do thuê, nên ông chỉ được đăng ký thường trú tại nơi đang thuê ở, nếu đã tạm trú liên tục tại chỗ ở đó từ một năm trở lên và phải được người cho thuê ghi ý kiến đồng ý vào Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (trừ trường hợp hợp đồng thuê nhà đã thỏa thuận người thuê nhà được đăng ký thường trú thì không cần ghi ý kiến của người cho thuê).    

Khi có đủ các điều kiện được đăng ký thường trú theo quy định trên, ông đến nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại Công an quận, huyện nơi ông đang tạm trú tại thành phố Hải Phòng.

Luật sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.