(Chinhphu.vn) - Ông Ngọc Anh (ngocanh2388@...) là sỹ quan quân đội chuẩn bị kết hôn đã có đủ giấy tờ cần thiết để làm thủ tục đăng ký kết hôn, nhưng không may bị mất hết các giấy tờ này. Vậy, ông Anh và bạn gái ông có thể xin lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không? Trường hợp của ông về địa phương xin xác nhận hay xin tại đơn vị?

Về vấn đề trên, Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Thẩm quyền đăng ký kết hôn, thủ tục đăng ký kết hôn và thẩm quyền xác nhận tình trạng hôn nhân, thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 17, Điều 18 và Điều 66, Điều 67 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 2, Mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp như sau:

UBND cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo thẩm quyền.

Khi đăng ký kết hôn, mỗi bên nam nữ phải khai vào một Tờ khai đăng ký kết hôn và phải xuất trình Giấy chứng minh nhân dân. Trường hợp cả hai bên nam nữ cùng cư trú tại một xã, phường, thị trấn hoặc cùng công tác tại một đơn vị trong lực lượng vũ trang nhân dân, thì hai bên kết hôn chỉ cần khai vào một Tờ khai đăng ký kết hôn.

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.

Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn và xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn đều có giá trị chứng minh về tình trạng hôn nhân của bên kết hôn; khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ chỉ cần nộp một trong hai loại giấy tờ trên.

Nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân phải được ghi rõ: đương sự hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại..., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai); đối với người đã có vợ/chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì cũng phải ghi rõ điều đó (Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A, hiện đang cư trú tại... đã đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản án ly hôn số ... ngày... tháng ... năm.... của Tòa án nhân dân ..., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai).

Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà UBND cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan.

Khi xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn, UBND cấp xã cũng phải ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để quản lý. Số/quyển số trong Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được ghi bổ sung sau phần ghi về thời hạn có giá trị của việc xác nhận: Xác nhận này có giá trị trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày cấp.

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên nam nữ phải là bản chính. Không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích sử dụng khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn và ngược lại, không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích làm thủ tục đăng ký kết hôn để sử dụng vào mục đích khác.

Xác nhận lại tình trạng hôn nhân

Tại Điểm g, Khoản 2, Mục II Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn: Khi đương sự yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn do xác nhận trước đó đã hết thời hạn sử dụng, thì phải nộp lại Tờ khai đăng ký kết hôn cũ; Trong trường hợp đương sự khai đã làm mất Tờ khai đăng ký kết hôn, thì phải có cam kết về việc chưa đăng ký kết hôn; bản cam kết phải lưu trong hồ sơ cấp xác nhận tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận lại tình trạng hôn nhân cũng phải được ghi trong Sổ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trong cột “Ghi chú” của Sổ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (kể cả xác nhận lần đầu và xác nhận lại) phải ghi rõ “Đã xác nhận lại tình trạng hôn nhân ngày ... tháng ... năm ...., lý do xác nhận lại ....”.  Hướng dẫn này cũng được áp dụng khi giải quyết yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích kết hôn.

Trường hợp ông Ngọc Anh cùng người phụ nữ hứa hôn bị mất Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, theo quy định và hướng dẫn nêu trên, để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn hai bên nam nữ, phải được người có thẩm quyền xác nhận lại tình trạng hôn nhân.

Ông Ngọc Anh là sỹ quan quân đội đang công tác trong lực lượng vũ trang phải yêu cầu thủ trưởng đơn vị xác nhận lại tình trạng hôn nhân cho ông vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Người phụ nữ phải yêu cầu UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận lại tình trạng hôn nhân của họ vào Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Theo quy định tại Điều 11 và Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình thì nam, nữ sau khi đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và kết hôn theo đúng nghi thức quy định thì việc kết hôn mới có giá trị pháp lý và pháp luật mới công nhận họ là vợ chồng.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.