(Chinhphu.vn) – Cần thực hiện đồng bộ quy hoạch đô thị tổng thể, tăng cường phương tiện giao thông công cộng (xe buýt, xe điện trên không, xe điện ngầm...) và các hình thức giao thông không gây ô nhiễm.

Đó là ý kiến được nhiều chuyên gia đồng tình tại Hội thảo Cải thiện chất lượng không khí và giao thông đô thị do Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Viện Nghiên cứu môi trường và rủi ro công nghiệp CH Pháp tổ chức ngày 21/3 tại Hà Nội.

Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại các đô thị lớn, nhất là thành phố Hà Nội, TP Hồ Chí Minh khiến cho môi trường bị ô.

Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường cho biết, theo số liệu quan trắc hàng năm, nồng độ bụi tại các khu đô thị lớn cao hơn trị số quy chuẩn kỹ thuật về môi trường không khí xung quanh cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Cục bộ ở một số nơi như các công trình xây dựng, các nút giao thông trọng điểm, đã bị ô nhiễm bụi rất trầm trọng, cao hơn trị số quy chuẩn cho phép từ 5-7 lần.

Đáng chú ý, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm tỉ lệ khoảng 60-70%, ngoài ra là các nguồn thải khí gồm: hoạt động sản xuất nông nghiệp (đốt rơm rạ), khai thác khoáng sản, xây dựng, khí thải do các ngành khác và hoạt động dân sinh.

Điều này cho thấy, ô nhiễm giao thông hiện nay đang là một trong những tác nhân lớn nhất có ảnh hưởng đến không khí đô thị, trong khi đó vẫn còn thiếu các chế tài xử phạt.

Ông Marc Cagnard  - Giám đốc cơ quan Thương mại UBIFRANCE (Pháp) cho rằng, ô nhiễm không khí không nhìn thấy được nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, gây ra các bệnh viêm phế quản cấp và mãn tính, hen suyễn, các vấn đề tim mạch. Nếu chất lượng không khí tiếp tục đi xuống, số lượng các trường hợp bị nhiễm bệnh sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020.

Theo các chuyên gia, ô nhiễm không khí tại khu vực đô thị cần có nhiều biện pháp để xử lý. Riêng đối với ô nhiễm giao thông, cần thực hiện đồng bộ việc quy hoạch đô thị tổng thể phải chú trọng đến các vấn đề giao thông, tăng cường phương tiện giao thông công cộng (xe buýt, xe điện trên không, xe điện ngầm...) và các hình thức giao thông không gây ô nhiễm.

Đặc biệt, cần xây dựng các quy định đặc thù về quản lý chất lượng không khí, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu về môi trường không khí như công nghệ xử lý khí thải, kỹ thuật quan trắc.

Giám đốc Quốc tế doanh nghiệp chuyên về phần mềm và hệ thống mô phỏng chất lượng không khí (ARIA Technologies) Bernard Favre phân tích, các đô thị cần phải xem việc phát triển phương tiện vận chuyển công cộng như là trọng tâm để giảm nguy cơ tắc nghẽn và ô nhiễm giao thông đồng thời tiến hành hạn chế phương tiện cá nhân, thu phí môi trường phương tiện.

Ông Bernard Favre khuyến nghị, các đô thị có thể ứng dụng hệ thống mạng lưới giao thông đa phương tiện bằng cách nghiên cứu quãng đường đi để từ đó có thể đưa ra phương tiện nào sử dụng thích hợp nhất nhằm giảm tải và hạn chế xe trong thành phố.

Còn theo Tổ chức Sáng kiến Không khí sạch châu Á (CAI-Asia), mạng lưới các trạm đo đạc ô nhiễm không khí, mô hình cải thiện giao thông ở đô thị phải được điều tra, khảo sát kỹ. Các hoạt động quan trắc, kiểm kê khí thải, kiểm soát môi trường không khí đô thị… sẽ là cơ sở để xác định mức độ nhiễm, từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục phù hợp.

Ở nước ta , tại TP Hồ Chí Minh, hiện có 9 trạm quan trắc chất lượng không khí tự động được xây dựng từ năm 2002 đo liên tục các thông số PM 10, SO2, CO… Hà Nội chỉ có 2 trạm.

Thu Cúc