(Chinhphu.vn) - Nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là cần thiết, qua đó góp phần cải thiện chất lượng dân số và đời sống xã hội.

Ông Dương Quốc Trọng. Ảnh: Chinhphu.vn

Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày truyền thống ngành Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và phát động Tháng hành động quốc gia về dân số, phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc phỏng vấn Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, ông Dương Quốc Trọng về những vấn đề liên quan đến công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình (DSKHHGĐ).

Xin ông cho biết, Tháng hành động quốc gia về DS năm nay sẽ hướng đến những nội dung và mục tiêu nào?

Ông Dương Quốc Trọng: Tháng hành động quốc gia về dân số (DS) năm nay sẽ hướng đến 2 mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất là nâng cao nhận thức và đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, mỗi người dân, cộng đồng và toàn xã hội đối với công tác DSKHHGĐ.

Mục tiêu thứ hai là huy động sự tham gia của các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế, các quốc gia giúp đỡ Việt Nam để thực hiện công tác DSKHHGĐ. Vì vậy trong Tháng hành động quốc gia, TCDS đã hướng dẫn các địa phương, các ban ngành tổ chức việc tuyên truyền, phổ biến các đường lối chính sách, các điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt, phê phán những tiêu cực trong công tác DSKHHGĐ; tăng cường công tác vận động đối với cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, chức sắc ở địa phương tham gia ủng hộ hơn nữa đối công tác DSKHHGĐ; Tổ chức các sự kiện truyền thông, quảng bá để người dân hiểu được về công tác DSKHHGĐ; Tăng cường các dịch vụ về dân số, sức khỏe sinh sản, KHHGĐ; đưa các dịch vụ này tới gần đối tượng sử dụng; tổ chức các hội thảo tập huấn chuyên đề; tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện công tác DSKHHGĐ ở các địa phương khác nhau.

Trong mấy năm gần đây tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh và liên tục, xin ông cho biết thêm về vấn đề này và nguyên nhân của tình trạng trên?

Ông Dương Quốc Trọng: Tỷ số giới tính khi sinh tăng lên so với trước nhưng tốc độ tăng có chậm lại. Chúng ta chưa thể kỳ vọng trong 10 năm tới tỷ số giới tính khi sinh giảm. Bởi giống như quy mô DS, chúng ta làm giảm sinh rất tốt, tốc độ gia tăng DS giảm nhưng quy mô DS vẫn tiếp tục tăng. Về tỷ số giới tính khi sinh thì tốc độ tăng đã giảm nhưng con số tuyệt đối (tỷ số giới tính khi sinh vẫn tiếp tục tăng: năm 2006 là 110/100 (tỷ lệ bé trai/ bé gái), năm 2007 là 111/100, năm 2008 là 112/100, năm 2009 là 110,5/100).

Trong mấy năm qua, tỷ suất sinh của Việt Nam có lên xuống khác nhau, đặc biệt là vào giai đoạn 2007-2008. Năm 2008 chúng ta đã vào cuộc quyết liệt nên từ năm 2009 đến nay đã lấy lại đà của những năm trước đây.

Đến nay, việc hoàn thành các chỉ tiêu đã đặt ra là hoàn toàn khả thi. Điều tra biến động DS của Tổng cục Thống kê cho thấy (ngày 1/4/2010, tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) là 2 con, đến 1/4/2011 là 1,99 con, hoàn thành chỉ tiêu đặt ra. Tỷ lệ tăng DS cũng hoàn thành, tức là giảm 0,01% (từ 1,05% năm 2010 xuống 1,04%) năm 2011.

Việc áp dụng công nghệ để can thiệp vào việc lựa chọn giới tính khi sinh đã trở nên phổ biến và đây là một trong những nguyên nhân làm mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS), xin ông cho thêm ý kiến về vấn đề này?

Ông Dương Quốc Trọng:Ở nước ta,  MCBGTKS xuất hiện từ năm 2006, một số quốc gia khác trên thế giới cũng có tình trạng này. Hai lý do cơ bản nhất dẫn tới MCBGTKS là muốn có con trai và có công nghệ để thực hiện ý muốn đó.

Một số nước có tình trạng MCBGTKS lại đổ lỗi cho siêu âm là nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng. Khi siêu âm phát hiện  giới tính thai nhi và khi biết thai nhi không theo ý muốn thì sẽ hủy thai đó.

Ở nước ta chưa đủ chứng cứ khoa học để xác định siêu âm là nguyên nhân duy nhất và lớn nhất để dẫn tới MCBGTKS.

Hiện nay trong Pháp lệnh Dân số và Nghị định số 104 quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh DS, Nghị định 114 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực DS, gia đình và trẻ em đã có quy định chi tiết về xử lý vi phạm trong lĩnh vực DS nói chung và việc lựa chọn giới tính khi sinh nói riêng. Cụ thể là nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính khi sinh (từ việc tuyên truyền, quảng bá, áp dụng công nghệ chẩn đoán đến phá thai vì lý do lựa chọn giới tính…). Sắp tới Bộ Y tế sẽ trình văn bản xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực DS thay thế cho Nghị định 114 trước đây.

Điều tra gần đây cho thấy, trên 80% bà mẹ biết được giới tính thai nhi (trong số đó trên 90% trong số đó biết giới tính thai nhi là do siêu âm), trong đó khu vực thành thị là trên 90%, khu vực nông thôn trên 7%.

Do vậy cần phải xử lý nghiêm những hành vi sử dụng công nghệ để can thiệp vào việc lựa chọn giới tính khi sinh. Nhưng quan trọng hơn là giáo dục đạo đức cho người thầy thuốc, để người thầy thuốc nhận thức rõ được làm việc đó là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi. Đối với khách hàng phải tiến tới tuyệt đối không sử dụng các biện pháp lựa chọn giới tính thai nhi.

Thưa ông, tỷ lệ DS bị khuyết tật chiếm tới 7,8% DS và tỷ lệ trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh có xu hướng tiếp tục gia tăng, xin ông cho biết những biện pháp để hạn chế tình trạng này?

Ông Dương Quốc Trọng: Tình trạng này có thể xuất hiện trước hoặc sau khi sinh. Sau khi sinh là do tai nạn giao thông, học đường và những tai nạn khác. Còn trước khi sinh là do bệnh lý di truyền, chuyển hóa... Đây là một trong những vấn đề bức xúc và ngành DS đang tập trung giải quyết, xử lý để hạn chế tối đa những trường hợp bệnh tật xảy ra trước khi sinh và để khi đứa trẻ ra đời khỏe mạnh cả về thể chất và trí tuệ.

Nhận thức rõ điều này, TCDS đã triển khai thí điểm mô hình can thiệp bằng hệ thống phòng bệnh một cách chủ động. Đó là dự phòng 3 cấp: cấp 1 là khi nam nữ chuẩn bị kết hôn phải được tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân; cấp 2 là khi bà mẹ mang thai được chẩn đoán và phòng những bệnh có thể ảnh hưởng đến thai nhi, khi sàng lọc chẩn đoán phát hiện cho người phụ nữ với những bệnh lý mà đứa bé không thể sống được thì có thể tư vấn để chấm dứt thai kỳ. Những bệnh lý có thể điều trị được ngay trong giai đoạn bào thai thì chúng ta cần điều trị sớm; cấp 3 là sàng lọc sơ sinh vì có những bệnh lý phải sau khi đứa trẻ ra đời thì mới có thể chẩn đoán được.

Tất cả công việc trên mới ở giai đoạn thí điểm chưa triển khai rộng rãi. Vì thời gian qua quy mô DS nước ta quá lớn, tốc độ tăng DS nhanh nên phải tập trung giải quyết vấn đề này trước.

Trong thời gian tới với sự đầu tư của Nhà nước, huy động từ cộng đồng có thể mở rộng việc phòng ngừa này, từ đó tỷ lệ khuyết tật, dị tật trẻ em sẽ giảm dần.

Thưa ông, tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống khá cao dẫn tới những hậu quả khó lường, vậy ông có thể cho biết những biện pháp để ngăn chặn tình trạng này?

Ông Dương Quốc Trọng: Tảo hôn và hôn nhân nhân cận huyết thống chủ yếu xảy ra ở vùng dân tộc ít người và những vùng còn gặp nhiều khó khăn. Những nơi này việc sàng lọc trước và sau sinh càng khó vì không có đủ cán bộ. Những vùng này chỉ tập trung tuyên truyền giải thích vận động để làm giảm tỷ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

TCDS đã triển khai mô hình can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng này và đã đem lại một số kết quả nhất định. Có sự can thiệp tích cực của địa phương, chính quyền tẩy chanh các đám cưới tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống; có hương ước, quy ước của địa phương đặt ra đối với những người dân đến dự đám cưới. Ví dụ, ở Sa Pa, Lào Cai người dân đi dự đám cưới tảo hôn hay hôn nhận cận huyết thống phải nộp phạt cho quỹ cộng đồng

Tuy nhiên đây là vấn đề thuộc về tập tục lạc hậu có từ rất lâu ở một số vùng, công tác DS vẫn liên quan rất nhiều đến văn hóa, phong tục tập quán, những điều đó là thâm căn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều mà cần phải coi là vấn đề chiến lược, lâu dài bền bỉ mới thực hiện được.

Xin ông cho biết, phương hướng và nhiệm vụ của công tác DS năm 2012?

Ông Dương Quốc Trọng: Năm 2012, là năm thứ 2 thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, là năm đầu tiên thực hiện Chiến lược DS và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn (2011-2020) vừa mới được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định ban hành ngày 14/11/2011. Nhiệm vụ trong thời gian tới là hết sức nặng nề. Đây cũng là thời điểm chuyển hướng mạnh về công tác DS, chuyển hướng về tư duy, cách làm vì nội dung công tác DS đã thay đổi nhiều so với trước đây.

Các nhiệm vụ đặt ra với công tác DS là thứ nhất là phải tập trung ưu tiên nâng cao chất lượng dân số. Thứ hai là cải thiện tình trạng sức khỏe bà mẹ trẻ em. Thứ ba là phát huy cho được lợi thế của cơ cấu DS vàng. Thứ tư là chủ động điều chỉnh tốc độ tăng DS. Thứ năm là kiểm soát bằng được tỷ số giới tính khi sinh.

Mai Chi  thực hiện