(Chinhphu.vn) - Hội thảo khoa học quốc tế “10 năm thực hiện Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng trong tương lai” khai mạc sáng 23/6, tại thành phố Hội An do Bộ VHTTDL và UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp tổ chức.

Hội thảo quốc tế 10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Ảnh VGP/Thế Phong

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn cho biết Hội thảo sẽ tập trung làm rõ vai trò của UNESCO và tầm quan trọng của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 của UNESCO đối với công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam và trên thế giới. Đồng thời trao đổi kinh nghiệm về bảo vệ di sản, thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác giữa các nước tham gia Công ước, đặc biệt là các nước ASEAN trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, góp phần kết nối mạng lưới bảo vệ di sản trong khu vực và trên thế giới.

PGS. TS Nguyễn Chí Bền, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam đánh giá: “10 năm thực hiện Công ước 2003 đã làm cho mọi người ý thức được giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, từ đó tự hào và xác định trách nhiệm của mình với di sản phi vật thể của quốc gia mình của dân tộc mình và của cả nhân loại. Việt Nam đã tích cực tiếp thu được nhiều bài học của các nước, của các nhà khoa học nước ngoài trong vấn đề bảo vệ di sản”.

GS.TS Yim Dawnhee, Đại học Dongguk (Hàn Quốc), đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa dân gian ở trong di sản văn hóa phi vật thể đồng thời vinh danh các nghệ nhân nghệ sĩ. Thí dụ tại Hàn Quốc những ai được công nhận là di sản nhân văn sống về di sản văn hóa phi vật thể thì phải truyền dạy cho thế hệ trẻ những kỹ thuật về nghệ thuật đó. Những người học không phải trả tiền cho việc đào tạo này.

Tính đến nay đã có 150 quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước này, trong đó có 93 quốc gia thành viên đã đưa 257 di sản vào danh sách đại diện nhân loại và 31 di sản vào danh sách bảo vệ khẩn cấp.  

“Chính phủ Hàn Quốc trả cho các di sản nhân văn sống môt khoản phụ cấp là 125.000 won (tương đương khoảng 1.100 USD)/tháng, chữa bệnh miễn phí, và các hỗ trợ đặc biệt khác, giúp nâng cao uy tín của các di sản nhân văn sống”, GS.TS Yim Dawnhee chia sẻ.

Nói về các nguy hại đối với văn hóa phi vật thể nhân loại, PGS.TS Jo Caust, Đại học Melbourne (Australia), đã cảnh báo việc lạm dụng việc phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể vào phát triển du lịch thiếu sự kiểm soát mà giải pháp cần thiết là phải phát triển du lịch bền vững.

Bà Jo Caust quan ngại những tác động tiêu cực như thế được gọi là “xâm lăng” văn hóa từ bên ngoài, từ cộng đồng cư dân này tác động đến cộng đồng cư dân khác, ví dụ ở một số khu du lịch như Bali của Indonesia, kể cả Hội An của Việt Nam. 

Bên cạnh đó, các đại biểu làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với bảo tồn di sản văn hóa vật thể, với đa dạng văn hóa và sự tham gia của cộng đồng xã hội vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.

Các ý kiến tại hội thảo cũng bày tỏ nhu cầu tiếp tục nghiên cứu trao đổi những vấn đề trong khuôn khổ pháp lý Công ước 2003, như định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể, về tài sáng tạo di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể là di sản văn hóa phi vật thể có cần phải bảo vệ nguyên trạng không hay là có thể tái tạo để phục vụ, để truyền dạy, để trình diễn đối với cộng đồng.

Dịp này các đoàn nghệ trong nước biểu diễn, giới thiệu đến các đại biểu hai tiết mục nghệ thuật đang đệ trình UNESCO công nhận Di sản phi vật thể nhân loại là Đờn ca tài tử Nam Bộ và Dân ca Ví Dặm Nghệ Tĩnh.

Việt Nam đã có 7 di sản văn hóa phi vật thể được tuyên dương (Nhã Nhạc cung đình Huế năm 2003, không gian cồng chiêng Tây Nguyên 2005, dân ca Quan Họ Bắc Ninh và Hát Ca trù 2009, Hội Giống ở đền Phù Đổng và đền Sóc 2010, hát Xoan Phú Thọ 2011, và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ 2012.

Hiện Việt Nam còn có rất nhiều bộ môn âm nhạc và nghệ thuật xứng đáng như hát xẩm, hát chèo, chầu văn, múa rối nước, hát Ví Dặm Nghệ Tĩnh, các loại hát và đàn của các dân tộc vùng Việt Bắc, các dân tộc Tây nguyên, Chăm, hát Bài Chòi, hát tuồng Bình Định, đàn đá, kèn đá Phú Yên, nhạc Phật giáo tán tụng miền Trung, Đờn ca Tài Tử Nam Bộ, bài Dạ cổ Hoài Lang, nhạc lễ miền Nam, v.v…có thể sẽ được UNESCO đánh giá đúng mức để tuyên dương trong tương lai.

Thế Phong