(Chinhphu.vn) - Ông Mai Xuân Vân (nguyenthixuanha80@...) hỏi: Theo Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ thì thời gian công tác được tính như thế nào? 

Ông Vân muốn biết, nếu ông công tác tại xã A từ năm 1996 đến nay, nhưng năm 2007 xã A mới được công nhận là xã đặc biệt khó khăn thì ông được hưởng mức phụ cấp như thế nào?

Về vấn đề trên, Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Phụ cấp công tác lâu năm

Tại Điều 5 Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động, kể cả người tập sự, thử việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến xã, phường, thị trấn; Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan chuyên môn kỹ thuật và người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, kể cả người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong quân đội nhân dân và công an nhân dân là đối tượng được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn:

- Mức 0,5 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến dưới 10 năm;

- Mức 0,7 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm;

- Mức 1,0 so với mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên.

Căn cứ tính hưởng trợ cấp là thời gian thực tế làm việc ở vùng đặc biệt khó khăn

Tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC hướng dẫn về phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP như sau:

Đối tượng và mức phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 116/2010/NĐ-CP.

Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tổng thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng thì được cộng dồn), bao gồm: Thời gian làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; Thời gian làm việc trong quân đội nhân dân và công an nhân dân.

Mức tiền phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tính theo công thức sau:

Mức tiền phụ cấp công tác lâu năm = Mức lương tối thiểu chung x Mức phụ cấp được hưởng theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trường hợp ông Mai Xuân Vân có thời gian làm việc (có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc) từ năm 1996 đến nay: Giai đoạn trước năm 2007, xã A chưa được Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do đó thời gian công tác của ông Vân tại xã A từ năm 1996 đến năm 2007 không được tính là thời gian công tác ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Từ  năm 2007 xã A  được phê duyệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vì vậy thời gian công tác tại xã A của ông Vân từ năm 2007 đến nay là thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nếu ông Vân tiếp tục làm việc liên tục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì đến năm 2012 (khi đủ 5 năm) ông Vân sẽ được hưởng phụ cấp công tác lâu năm mức 0,5 so với mức lương tối thiểu chung tại thời điểm đó.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.