(Chinhphu.vn) - Ông Dương Ngọc Cảnh (kiemtheend@...) có 25 năm 5 tháng làm việc tại Công ty nhà nước, sau khi Công ty cổ phần hóa, ông tiếp tục làm việc thêm 5 năm. Ngày 20/9/2011, ông nhận quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, với tổng thời gian làm việc là 33 năm 5 tháng.

Ông Cảnh hỏi việc Công ty chi trả cho ông số tiền trợ cấp như dưới đây có đúng quy định không?

Cụ thể: Mức lương tháng ông Cảnh nhận trước khi thôi việc là: 813.333 đồng x 3,54 = 2.879.200 đ/tháng.

Khi chấm dứt hợp đồng ông Cảnh được Công ty chi trả trợ cấp thôi việc mỗi năm công tác được 0,5 tháng lương cơ bản cộng với phụ cấp như sau:

- Thời gian trước khi Công ty cổ phần hóa, Công ty chi trả theo chế độ doanh nghiệp nhà nước là: 12,75 x (2,65+0,1) x 290.000 đồng = 10.168.125 đồng.

- Thời gian Công ty cổ phần hóa, Công ty chi trả theo chế độ Công ty cổ phần là: 2,5 x 3,54 x 813.333 đồng = 7.197.997 đồng.

Tổng chi trả là: 10.168.125 đồng + 7.197.997 đồng =  17.366.122 đồng.

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời câu hỏi của ông Cảnh như sau:

Theo hướng dẫn tại Điều 2, Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ về Hợp đồng lao động thì cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc như sau:

Tiền trợ cấp thôi việc

=

Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc

x

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc

x ½

 Trong đó:

- Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành 1/2 năm. Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

- Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.

Đối với Công ty nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với các trường hợp này.

Với quy định nêu trên, theo thông tin ông Dương Ngọc Cảnh cung cấp, nếu tiền lương bình quân 6 tháng liền kề của ông Cảnh trước khi chấm dứt hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần là 2.879.200 đồng và ông Cảnh có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục từ ngày 1/1/2009 đến hết ngày 20/9/2011 (2 năm 9 tháng) thì thời gian ông được tính hưởng trợ cấp thôi việc là: 33 năm 5 tháng làm việc trừ đi thời gian 2 năm 9 tháng tham gia bảo hiểm thất nghiệp bằng 30 năm 8 tháng, được làm tròn thành 31 năm.

Vậy Công ty cổ phần phải trả tiền trợ cấp thôi việc cho ông Cảnh là: 31 năm x 2.879.200 đồng x ½ = 44.627.600 đồng.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.