(Chinhphu.vn) -  Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu nội dung văn bản trả lời chất vấn của Bộ trưởng Giao thông vận tải (GTVT) Đinh La Thăng về các vấn đề mà Bộ trưởng vì không đủ thời gian nên chưa trả lời trực tiếp trong Phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII.

1. Về việc khắc phục ùn tắc giao thông tại trạm thu phí và kế hoạch đẩy nhanh tiến độ các công trình BOT mở rộng Quốc lộ 1A (chất vấn của Đại biểu Hà Sỹ Đồng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị)

Thứ nhất, trong tình hình phát triển giao thông hiện nay, đã có hiện tượng ùn tắc các phương tiện giao thông tạm thời tại một vài trạm thu phí như Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị, đã nêu.

Để khắc phục ùn tắc giao thông tại trạm thu phí, trong thời gian vừa qua, Bộ GTVT đã có một số biện pháp khắc phục, cụ thể:

- Đã triển khai áp dụng các giải pháp như: tăng số làn thu tại các trạm thu phí; tăng cường phối hợp với các lực lượng cảnh sát, chính quyền địa phương để phân luồng và giải quyết nhanh chóng các sự cố giao thông và vi phạm tại các trạm thu phí.

- Triển khai áp dụng công nghệ thu phí tiên tiến thay cho thu phí thủ công để tăng lưu lượng xe thông qua, như: Công nghệ thu phí một dừng; đang áp dụng thí điểm công nghệ không dừng tại một số trạm thu phí (như Trạm cầu Cần Thơ và tiếp tục triển khai tại một số trạm khác như trạm Lường Mẹt, Ninh An, Phú Bài...). Các công nghệ mới này có nhiều ưu điểm, nhất là việc tăng lưu lượng thông qua trạm, giảm ùn tắc giao thông.

- Thực hiện Luật Giao thông đường bộ, ngày 28/10/2011, Bộ GTVT đã có Tờ trình số 7016/TTr-BGTVT trình Chính phủ ban hành Nghị định bảo trì đường bộ, theo đó sẽ thay đổi phương thức thu phí sử dụng đường bộ tại các trạm nộp ngân sách hiện nay bằng phương thức thu trực tiếp trên đầu phương tiện cơ giới đường bộ.

Thứ hai, Dự án BOT mở rộng QL1A đoạn từ thành phố Đông Hà đến thị xã Quảng Trị do Nhà đầu tư (Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Thịnh) thực hiện, tổng mức đầu tư dự án 689,3 tỷ đồng (trong đó phần vốn của Nhà đầu tư là 562,8 tỷ đồng; vốn ngân sách nhà nước 126,5 tỷ đồng chủ yếu phục vụ công tác giải phóng mặt bằng). Dự án được khởi công ngày 18/10/2008, tiến độ thực hiện đã được Tổng cục Đường bộ Việt Nam (Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết và thực hiện hợp đồng dự án) chấp thuận đến ngày 31/12/2011.

Tuy nhiên, dự án thực hiện chậm so với tiến độ yêu cầu, đến nay khối lượng thực hiện mới chỉ đạt 34,64%. Nguyên nhân chậm trễ của dự án chủ yếu do thiếu vốn (nguồn vốn ngân sách) để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng (GPMB), hiện tại có mặt bằng thi công được là 11,016/13,242 km đạt 83% diện tích GPMB, còn lại 2,226km chưa GPMB. Nguồn vốn ngân sách phục vụ cho công tác GPMB đã được bố trí 52 tỷ đồng; Bộ GTVT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung kế hoạch vốn Tiểu dự án GPMB năm 2011 là 50 tỷ đồng (Văn bản 673/BGTVT-KHĐT ngày 30/01/2011). Tuy nhiên, do khó khăn chung về nguồn vốn nên đến nay phần vốn này chưa được bố trí, ảnh hưởng đến tiến độ thi công Dự án.

Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện, ngày 3/11/2011, Lãnh đạo Bộ GTVT đã kiểm tra hiện trường và chỉ đạo như sau:

a) Về công tác GPMB: Yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam chỉ đạo Nhà đầu tư tích cực phối hợp với UBND tỉnh Quảng Trị, Sở GTVT Quảng Trị và các đơn vị có liên quan để đẩy nhanh công tác GPMB; kịp thời báo cáo, cung cấp thông tin, hồ sơ chi tiết về các vướng mắc, các thủ tục tồn tại cho các cấp có thẩm quyền để xử lý.

Do khó khăn về vốn ngân sách, Bộ GTVT đã có chủ trương đề nghị Nhà đầu tư nghiên cứu phương án vay vốn để ứng trước cho Tỉnh phục vụ công tác GPMB, phần vốn gốc Nhà nước (Bộ GTVT) sẽ chi trả theo kế hoạch, phần lãi vay được tính vào phương án tài chính của dự án.

b) Về thi công: Yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam chỉ đạo Nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công các đoạn đã có mặt bằng, cụ thể:

- Bổ sung nhân lực, thiết bị, vật liệu đảm bảo trong mọi điều kiện đáp ứng tiến độ thi công công trình;

- Tăng cường công tác quản lý dự án về chất lượng, phải đảm bảo chất lượng công trình theo đúng quy định;

- Hoàn thành thảm bê tông nhựa hạt trung dày 7cm những đoạn đã có mặt bằng trong năm 2011 và thi công hoàn thành hạng mục dải phân cách giữa và tiến hành trồng cây xanh trong năm 2011. Phần khối lượng còn lại của Dự án sẽ hoàn thành trong thời gian tối đa là 6 tháng kể từ ngày được bàn giao mặt bằng.

- Tăng cường công tác đảm bảo an toàn giao thông và vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng công trình. Hạn chế tối thiểu việc để xảy ra tai nạn giao thông trên tuyến.

2. Về việc khắc phục đoạn đường chất lượng kém của Quốc lộ 1A trên địa bàn tỉnh Phú Yên, Quốc lộ 25 đi qua địa phận 2 tỉnh Phú Yên và Gia Lai và việc phân bố vé trên các chuyến tàu nhanh qua ga Tuy Hòa ít (chất vấn của Đại biểu Đặng Thị Kim Chi, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên)

Thứ nhất, về nội dung QL1A trên địa bàn tỉnh Phú Yên nhiều đoạn chất lượng kém, nguy hiểm, dễ xảy ra tai nạn, tắc đường trong mùa mưa lũ: 

Theo báo cáo của Khu Quản lý Đường bộ V - Tổng cục Đường bộ Việt Nam, cơ quan quản lý khai thác Quốc lộ 1A đoạn qua địa bàn tỉnh Phú Yên: Do ảnh hưởng của mùa mưa bão 2011 cùng với điều kiện địa hình, địa chất phức tạp, lưu lượng xe gia tăng đột biến cả về lưu lượng và tải trọng làm cho nền mặt đường một số đoạn trên Quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Phú Yên bị hư hỏng với tình trạng lún lõm 2 vệt bánh xe, một số vị trí bị ổ gà, sình lún sâu gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông cho người và phương tiện giao thông. Để khắc phục tình trạng trên, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã phê duyệt các dự án sửa chữa đường bộ năm 2011 trên Quốc lộ 1 gồm các đoạn Km1283-Km1287; Km1357-Km1361 và có thể khởi công trước Tết Nguyên Đán 2012. Các dự án sửa chữa đoạn Km1290-Km1298 và Km1308-Km1315 đang tiếp tục hoàn thiện để phê duyệt và triển khai thực hiện trong thời gian tới. Trước mắt, giao đơn vị quản lý khai thác tiến hành các biện pháp khắc phục, xử lý kỹ thuật: Bù vênh, vá ổ gà, xử lý sình lún, cao su để đảm bảo giao thông tại các vị trí hư hỏng nêu trên; đảm bảo và nâng cao an toàn giao thông trong những tháng cuối năm 2011, đặc biệt là trong dịp trước Tết Nguyên Đán 2012 sắp tới.

* Về đoạn tuyến qua khu vực đèo Cả: Đây là đoạn tuyến đèo núi, tiêu chuẩn kỹ thuật thấp, không đáp ứng được lưu lượng và phương tiện lưu thông hiện nay dễ xảy ra tai nạn. Chính vì vậy, Thủ tướng Chỉnh phủ cho phép đầu tư dự án tại Văn bản số 1250/TTg-KTN ngày 27/7/2009. Hiện nay, Bộ GTVT đã phê duyệt Đề xuất dự án và chỉ định Nhà đầu tư (Liên doanh Công ty CP BOT cầu Phú Mỹ, Công ty CP tập đoàn Mai Linh Nam Trung bộ và Tây nguyên, Công ty TNHH Đầu tư Hải Thạch, Công ty TNHH Á Châu) tại các Quyết định số 2860/QĐ-BGTVT ngày 5/10/2009 và số 2886/QĐ-BGTVT ngày 6/10/2009. Nhà đầu tư đã tổ chức lập dự án và triển khai thiết kế dự án với quy mô như sau: Xây dựng hoàn chỉnh hầm Đèo Cả gồm hai đường hầm, mỗi hầm 2 làn xe; xây dựng hầm Cổ Mã 2 làn xe; xây dựng cầu và đường dẫn với tổng chiều dài tuyến hơn 11km. Tổng mức đầu tư dự kiến 14.970 tỷ đồng; trong đó kinh phí đầu tư theo Hợp đồng BOT 9.240 tỷ đồng, Hợp đồng BT 5.323 tỷ đồng, kinh phí GPMB 405 tỷ đồng.

Để đẩy nhanh tiến độ của dự án, Bộ GTVT đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện dự án có sự tham gia của Lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên và UBND tỉnh Khánh Hòa, chỉ đạo Nhà đầu tư hoàn thành phê duyệt dự án đầu tư và thực hiện đàm phán Hợp đồng và hoàn tất các thủ tục để có thể khởi công dự án vào đầu năm 2012.

* Về tiến độ thi công chống xói lở Quốc lộ 1A đoạn đi qua dốc Vườn Xoài, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thuộc Dự án Xử lý sụt trượt đảm bảo giao thông Km1294+800 - Km1294+900 Quốc lộ 1A, tỉnh Phú Yên đã được Tổng cục Đường bộ Việt Nam phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 1141/QĐ-TCĐBVN ngày 27/7/2011.

Triển khai quyết định phê duyệt dự án, ngày 17/10/2011 Khu Quản lý đường bộ 5 (Chủ đầu tư dự án) đã ký hợp đồng với Nhà thầu là Công ty TNHH MTV Quản lý và Sửa chữa đường bộ Phú Yên thi công trong thời gian 90 ngày. Do mức độ ảnh hưởng đời sống, sinh hoạt của các hộ dân và yêu cầu cấp bách đảm bảo giao thông thông suốt trên tuyến Quốc lộ 1A, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã tổ chức các đoàn kiểm tra, chỉ đạo đôn đốc Nhà thầu tập trung lực lượng thi công. Đến nay công trình đã cơ bản hoàn thành phần thi công nền đường, đang xây dựng hệ thống thoát nước ngầm. Theo báo cáo của Tổng cục Đường bộ Việt Nam, công trình sẽ hoàn thành trước ngày 31/12/2011.

* Về nội dung một số cống trên Quốc lộ 1A không đảm bảo cho việc thoát nước gây ngập úng cho các khu vực dân cư: Dự án xây dựng tuyến tránh quốc lộ 1A qua thị xã Sông Cầu được Bộ GTVT đầu tư xây dựng, Ban Quản lý dự án 1 (PMU1) làm chủ đầu tư có chiều dài 6,7km từ Km1277 - Km1284. Dự án hoàn thành, bàn giao đưa vào quản lý khai thác từ tháng 7/2005. Từ đó đến nay, qua các đợt mưa lũ năm 2009 và 2010, cánh đồng Long Phước nằm ở phía Tây tuyến đường bị ngập úng gây ảnh hưởng đến sản xuất của nhân dân địa phương. Để khắc phục dứt điểm tình trạng ngập úng tại khu vực, Bộ GTVT đã yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam chỉ đạo đơn vị quản lý khai thác tuyến đường (Khu QLĐB V) tiến hành điều tra, đánh giá và xác định nguyên nhân ngập úng để cho phép lập dự án đầu tư bổ sung hệ thống thoát nước ngang của tuyến tránh thị xã Sông Cầu.

Thứ hai, Quốc lộ 25 có chiều dài khoảng 181km đi qua địa phận 2 tỉnh Phú Yên và Gia Lai, nối liền Quốc lộ 1A với đường Hồ Chí Minh (Quốc lộ 14). Hiện nay, mặt đường đang xuống cấp, để đáp ứng được nhu cầu vận tải và phát triển kinh tế - xã hội cũng như đi lại của nhân dân trong khu vực nói riêng và trong vùng nói chung, Bộ GTVT phê duyệt và thực hiện đầu tư dự án cải tạo, nâng cấp QL25 như sau:

- Đoạn từ Km21+600–Km99+432 và đoạn từ Km113–Km123 với tổng mức đầu tư 1.390 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và Chủ đầu tư là Tổng cục Đường bộ Việt Nam. Dự án đã được khởi công từ đầu năm 2010 và chủ yếu triển khai thi công gói thầu số 4 (Km47+125 – Km58+000); gói thầu số 8 (Km85+000 - Km99+432). Tuy nhiên, thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm pháp, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội do đó phải tạm thời dãn tiến độ để năm 2012 bố trí được vốn sẽ tiếp tục thực hiện các đoạn đang thi công dở dang trên; các năm tiếp theo nếu bố trí đủ vốn sẽ triển khai các đoạn còn lại để có thể hoàn thành trước 2015. Bộ đã chỉ đạo Chủ đầu tư thi công hoàn thiện các hạng mục đang thi công dở dang và thực hiện công tác đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến. Các đoạn còn lại của Dự án chưa bố trí được vốn Bộ yêu cầu Sở GTVT Phú Yên và Sở GTVT Gia Lai tăng cường bảo trì và đảm bảo giao thông.

- Đoạn qua đèo Tô Na (Km 99 + 500 – Km 113) đang triển khai thực hiện đầu tư theo tiêu chuẩn cấp III miền núi, đã khởi công từ cuối năm 2008, phấn đấu hoàn thành vào đầu năm 2012.

- Các đoạn từ Km0-Km21+600 và đoạn từ Km123-Km181 Bộ GTVT cũng đã phê duyệt dự án đầu tư từ quý III/2010 với tổng mức đầu tư 2.228 tỷ đồng nhưng chưa xác định được nguồn vốn để thực hiện, trong các năm tiếp theo nếu được Thủ tướng Chính phủ bố trí nguồn vốn cho Dự án thì sẽ triển khai thực hiện.

Thứ ba, hiện nay, Đường sắt Việt Nam đang áp dụng hệ thống bán vé điện toán. Hệ thống bán vé điện toán bán vé tự động theo nguyên tắc hạn chế cự ly cắt chặng như vậy hành khách có thể mua được vé hay không là phụ thuộc vào cự ly đi tàu của hành khách và thời điểm hành khách mua vé so với ngày đi tàu. Hành khách ở một ga có thể mua vé đi tàu ở bất cứ ga nào mà tàu có dừng nhận khách. Hành khách mua vé sớm được chọn chỗ theo ý muốn, hành khách mua vé muộn có thể không mua được vé theo ý muốn, phải chọn chỗ khác và thậm chí không còn chỗ. Hiện nay hệ số chiếm chỗ trên các đoàn tàu thống nhất tính bình quân cho cả năm là 75%. Tuy nhiên vào một số ngày cuối tuần và các dịp hè, lễ, tết ở một số ga cách trung tâm các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn khoảng 500km thường thiếu loại vé giường nằm. Đường sắt Việt Nam đang nghiên cứu phương án chạy tàu để vừa đáp ứng nhu cầu của hành khách vừa đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vận tải hành khách bằng đường sắt hiện nay chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ bằng 0,4 % so với vận tải bằng các phương tiện khác, nguyên nhân do cơ sở hạ tầng đường sắt xuống cấp, năng lực thông qua thấp. Khối lượng vận tải hành khách và hàng hoá hàng năm đạt thấp và có chiều hướng sụt giảm.

Về việc thời gian tàu dừng lại ga Tuy Hòa chỉ có 2 phút gây áp lực lớn cho việc lên xuống của hành khách, nguy hiểm khi có người già, trẻ em: Hiện nay hàng ngày Đường sắt Việt Nam đang tổ chức 5 đôi tàu thống nhất và tàu nhanh có quy định dừng đón trả khách tại ga Tuy Hòa. Thời gian đỗ tại ga Tuy Hòa là 3 phút lớn hơn so với ý kiến chất vấn của Đại biểu là 1 phút. Theo thống kê mỗi ngày có khoảng từ 110 đến 130 hành khách lên tàu tại ga Tuy Hoà. Tại ga Tuy Hoà có 5 đoàn tàu Thống nhất và tàu nhanh có đỗ nhận khách, như vậy bình quân một đoàn tàu có khoảng 24 người lên tàu với thời gian đỗ 3 phút là hợp lý. Tuy nhiên khi lượng hành khách của một chuyến tàu tăng cao hơn số lượng hành khách bình thường đoàn tàu phải chờ cho hành khách lên hết tàu và vào trong toa tàu mới được chạy. Theo báo cáo của ga Tuy Hoà trong 10 năm qua chưa có hành khách nào mua được vé mà không lên được tàu và cũng không có vụ tai nạn hành khách nào tại ga Tuy Hòa. Hệ thống đường sắt Việt Nam hiện nay là đường đơn, năng lực thông qua có giới hạn, vì vậy vừa để đảm bảo an toàn vừa rút ngắn thời gian hành khách đi tàu thì thời gian dừng tàu tại mỗi ga có quy định đón và tiễn hành khách đó được tính toán đầy đủ.

3. Về việc đầu tư nâng cấp các Quốc lộ 14, 19, 25 trên địa bàn tỉnh Gia Lai (chất vấn của Đại biểu Huỳnh Thành, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai)

- Quốc lộ 14 đi trùng đường Hồ Chí Minh: Trong các năm qua, Bộ GTVT đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Quốc hội và Chính phủ, thực hiện hoàn thành cơ bản các đoạn phía Bắc qua thành phố Pleiku dài 11km từ cuối năm 2009 và đoạn qua thị trấn Chư Sê, tạo nên bộ mặt khang trang của thành phố và thị trấn. Năm 2010, đã triển khai nâng cấp mở rộng đoạn kéo dài xuống phía Nam thành phố Pleiku dài 9km và đoạn từ thành phố Kon Tum đến thành phố Pleiku, đến năm 2011 do khó khăn về vốn và phải thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, do đó phải tạm thời giãn tiến độ để năm 2012 bố trí được vốn sẽ tiếp tục thực hiện. Trong khi chưa thể triển khai thi công tiếp, Bộ GTVT đã chỉ đạo Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh thu dọn công trường và phối hợp với địa phương ký hợp đồng với các đơn vị quản lý đường bộ để đảm bảo giao thông và an toàn giao thông trên tuyến.

Dự án đoạn từ thành phố Pleiku đến cầu 110 giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Chính phủ đã giao UBND tỉnh Gia Lai làm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền triển khai đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng-Chuyển giao-Kinh doanh (BOT), hiện nay tỉnh Gia Lai đang chỉ đạo Nhà đầu tư Công ty cổ phần đầu tư BOT&BT Đức Long sớm hoàn chỉnh dự án để khởi công vào đầu năm 2012. Trong quá trình triển khai dự án, Bộ GTVT sẽ phối hợp chặt chẽ với UBND tỉnh Gia Lai để giải quyết các vấn đề liên quan.

- Quốc lộ 19 đoạn qua tỉnh Gia Lai: Đến nay, đã hoàn thành các dự án đoạn qua thành phố Pleiku dài 3,5km, đoạn qua thị xã Kon Dơng dài 4km và đoạn Hàm Rồng đến biên Giới cửa khẩu Lệ Thanh dài 59km (còn lại 400 m giữa 2 trạm kiểm soát đang chờ phía Campuchia có thỏa thuận để ký kết hiệp định triển khai tiếp nối thông với đường 78).

Các dự án đang triển khai công tác chuẩn bị đầu tư là dự án đoạn tránh đèo An Khê dài 8km và dự án đoạn nối thị trấn Đăk Đoa để khi bố trí được nguồn vốn sẽ thực hiện đầu tư vào thời điểm thích hợp. Trong khi chưa triển khai đầu tư được ngay, Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam tăng cường công tác bảo trì đường bộ và đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến.

- Quốc lộ 25: Bộ GTVT đã giao Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư các dự án cụ thể như sau:

Đoạn qua đèo Tô Na (Km 99 + 500 – Km 113) đang triển khai thực hiện đầu tư theo tiêu chuẩn cấp III miền núi, đã khởi công từ cuối năm 2008, phấn đấu hoàn thành vào đầu năm 2012.

Đoạn từ Km 21+600 – Km 99+423 và đoạn từ Km 113 – Km 123, qua hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai đang triển khai theo tiêu chuẩn cấp IV đồng bằng, có tổng mức đầu tư 1.390 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, đã khởi công từ đầu năm 2010. Năm 2011, do khó khăn về vốn và phải thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ, do đó phải tạm thời giãn tiến độ để năm 2012 bố trí được vốn sẽ tiếp tục thực hiện các đoạn đang thi công dở dang (Km85 – Km99+423); các năm tiếp theo nếu bố trí đủ vốn sẽ triển khai các đoạn còn lại để có thể hoàn thành trước năm 2015.     

Đoạn từ Km 0 – Km 21+600 và đoạn Km 123 – Km 181, qua hai tỉnh Phú Yên và Gia Lai, Bộ GTVT đã phê duyệt dự án từ quý III/2010, có tổng mức đầu tư 2.229 tỷ đồng, hiện nay chưa xác định được nguồn vốn để thực hiện đầu tư; trong các năm tiếp theo nếu được Thủ tướng Chính phủ bố trí nguồn vốn cho dự án sẽ triển khai thực hiện đầu tư.  

4. Về việc xem xét cho tiếp tục hoàn thành dự án nâng cấp cải tạo Quốc lộ 27 qua địa phận 2 tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Đức Thanh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận)

Về thi công Quốc lộ 27 đoạn qua địa bàn tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận:

- Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 27 đoạn Km174+000 – Km272+800 qua tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận đã được Bộ GTVT khởi công tháng 2/2009, dự kiến hoàn thành năm 2012.

Ngay từ khi bắt đầu khởi công dự án, Bộ GTVT đã chỉ đạo kiểm tra, đôn đốc các nhà thầu tập trung thi công nên đã hoàn thành được 19,5km bê tông nhựa, 1,15km mặt đường bê tông xi măng. Tuy nhiên, do chậm thực hiện công tác GPMB và thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, dự án phải tạm đình hoãn tiến độ. Các đoạn tuyến dừng thi công, Bộ GTVT đã chỉ đạo chủ đầu tư có biện pháp đảm bảo duy trì chất lượng, đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh môi trường trong thời gian tạm dừng cho đến khi bố trí được nguồn vốn thi công, cụ thể: Các gói thầu trên đèo Ngoạn Mục, chủ đầu tư thành lập tổ đảm bảo giao thông; các gói thầu còn lại trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng giao cho đơn vị quản lý duy tu khu vực thực hiện.

Đến nay công tác GPMB dự án vẫn còn nhiều khó khăn, cụ thể: Trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận còn vướng 339 hộ dân thuộc huyện Ninh Sơn, các công trình công cộng (cáp quang, nước sinh hoạt, cột điện trung hạ thế, trạm biến áp,...) chưa di chuyển được; Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đoạn Km199-Km206 chưa GPMB, một số hộ dân chưa di chuyển được gây khó khăn trong công tác thi công dự án.

- Vừa qua xảy ra hiện tượng đường bị sạt lở kết hợp với lũ quét tại Nhà máy Thủy điện Đa Nhim - Sông Pha ngày 9/10/2011, Bộ GTVT đã giao Tổng cục Đường bộ Việt Nam chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp với Công ty Thuỷ điện Đa Nhim - Hàm Thuận-Đa Mi xem xét, phân tích hiện trạng lũ quét đánh giá chính xác nguyên nhân, đề xuất các biện pháp giải quyết khắc phục và ngăn ngừa.

Về việc tiếp tục triển khai thực hiện dự án:

Hiện nay các yêu cầu về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông cũng như công tác bảo đảm an toàn giao thông đang rất bức xúc, nhưng do điều kiện về nguồn vốn ngân sách nhà nước rất hạn chế nên chưa thể triển khai hết các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, dự án cải tạo, nâng cấp QL.27 phải giãn tiến độ nên Bộ GTVT sẽ báo cáo Chính phủ tiếp tục bố trí vốn trái phiếu Chính phủ năm 2012 để triển khai đầu tư hoàn thành dự án trong thời gian sớm nhất. Bộ GTVT mong nhận được sự chia sẻ của Tỉnh.

5. Về tiến độ hoàn thành công trình đường Đông Trường Sơn, Quốc lộ 27, Quốc lộ 20, đường cao tốc Đà Lạt-Dầu Giây và giải pháp chống ùn tắc, ô nhiễm môi trường khi tổ chức vận chuyển bô-xit (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng)

- Tuyến đường Trường Sơn Đông đoạn qua tỉnh Lâm Đồng: Đây là dự án đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư, đoạn qua tỉnh Lâm Đồng dài 67 km, quy mô tiêu chuẩn cấp IV và V miền núi, có tổng mức đầu tư 1.400 tỷ. Bộ Quốc phòng đã triển khai thi công từ năm 2007, đến nay đang thi công dở dang 41 km nền, mặt đường và công trình trên tuyến; còn lại 26 km mở tuyến mới chưa thi công. Theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng tuyến này sẽ hoàn thành vào năm 2015 do công trình nằm trong khu vực có địa chất phức tạp, không ổn định, điều kiện thời tiết không thuận lợi do mùa mưa trong năm kéo dài. 

- Quốc lộ 27 và Quốc lộ 20: Trên Quốc lộ 27 hiện đang triển khai 2 dự án gồm đoạn Km 174 – Km 272+800 do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư và đoạn tránh sân bay Liên Khương do Sở GTVT Lâm Đồng làm chủ đầu tư. Cả 2 dự án đang triển khai thi công dở dang nên phải đình hoãn theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ. Những đoạn đang thi công dở dang hiện bị hư hỏng nghiêm trọng, việc đảm bảo giao thông gặp khó khăn do thiếu vốn, Bộ GTVT đã thống nhất với tỉnh Lâm Đồng cần phải thi công hoàn thiện những đoạn đang thi công dở dang để đảm bảo an toàn giao thông nên vừa qua được sự quan tâm của UBND tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam vay 30 tỷ đồng, để hoàn thành tối đa khối lượng thi công dở dang và đảm bảo giao thông trên tuyến các vị trí xung yếu. Năm 2012, nếu bố trí đủ vốn có thể hoàn thành đoạn từ Km 174 – Km 199+750. Các đoạn còn lại nếu bố trí được vốn sẽ triển khai tiếp và phấn đấu hoàn thành vào năm 2013.

Trên Quốc lộ 20 bao gồm 2 dự án: Dự án khôi phục, cải tạo Quốc lộ 20 đoạn nối từ tỉnh Đồng Nai đến tỉnh Lâm Đồng, do khó khăn nguồn vốn nên Bộ GTVT đang triển khai đầu tư theo hình thức Xây dựng – Chuyển giao (BT) đoạn từ Dầu Giây đến Bảo Lộc trước để phục vụ vận chuyển phát triển ngành công nghiệp nhôm giai đoạn khi chưa có cảng Kê Gà, dự kiến khởi công cuối tháng 12/2011 và phấn đấu hoàn thành vào đầu năm 2014. Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 20 đoạn Trại Mát – Lâm Đồng dài 6 km, Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm chủ đầu tư, vừa qua do nhu cầu cấp thiết UBND tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ cho vay 40 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng và sẽ khởi công vào 12/2011, phấn đấu hoàn thành vào đầu năm 2013.

- Về vận chuyển bô-xit: Để chống ùn tắc và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam thống nhất phương án tuyến đường vận chuyển phục vụ nghành công nghiệp nhôm giai đoạn khi chưa có cảng Kê Gà. Trên địa bàn tỉnh Lâm đồng Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam lập dự án đầu tư cải tạo, sửa chữa 2 tuyến đường tỉnh lộ ĐT 725 và Quốc lộ 20. Hiện nay, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã hoàn thành việc lập dự án đầu tư cải tạo, sửa chữa tuyến đường tỉnh lộ ĐT 725 và bàn giao cho tỉnh Lâm Đồng thực hiện đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, tháng 12/2011 khởi công và hoàn thành tháng 12/2012. Dự án khôi phục, cải tạo Quốc lộ 20 đoạn từ Dầu Giây – Bảo Lộc, Bộ GTVT đang chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam đẩy nhanh tiến độ hoàn tất các thủ tục đầu tư theo hình thức BT để có thể khởi công vào cuối tháng 12/2011.

- Đường cao tốc Đà Lạt – Dầu Giây: Do nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước rất hạn hẹp, Bộ GTVT đã lập kế hoạch đầu tư dự án này theo hình thức PPP. Tuy nhiên, đến nay chưa có nhà đầu tư thực sự quan tâm đến dự án nên chưa thể khẳng định về thời gian để thực hiện, Bộ GTVT sẽ phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng trong việc kêu gọi vốn đầu tư để thực hiện dự án.

6. Về việc nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 50 và Dự án đường Hồ Chí Minh (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Minh Lâm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Long An)

Dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 50 đoạn qua địa bàn tỉnh Long An thuộc Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 50 – Thành phần 1 (Km3+004 – Km34+300) qua địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Long An. Hiện nay, tình hình triển khai đoạn qua địa phận tỉnh Long An đã cơ bản hoàn thành. Tuy nhiên, việc thực hiện dự án trên địa phận TP. HCM rất khó khăn do công tác GPMB thực hiện rất chậm (khối lượng GPMB mới chỉ thực hiện được khoảng 20%). Do vậy, tiến độ chung của dự án sẽ bị ảnh hưởng kéo dài so với tiến độ đề ra.

Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành - Đức Hòa qua địa phận 4 tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và Long An với chiều dài khoảng 84km trong đó đoạn qua tỉnh Long An có chiều dài khoảng 21 km. Hiện nay, tình hình thực hiện dự án mới chỉ đạt khoảng 40% khối lượng. Vì vậy, việc hoàn thành dự án sẽ bị chậm trễ so với tiến độ đề ra.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 về các giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Bộ GTVT đang chỉ đạo rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011. Do vậy, việc bố trí vốn để tiếp tục thực hiện các dự án nêu trên là rất khó khăn. Bộ GTVT sẽ bố trí vốn để tiếp tục triển khai dự án sau khi Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn cho dự án.

7. Về giải pháp cho con đường Quốc lộ 28 từ Di Linh đi Đắk Nông do thi công thủy điện bị ngập (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng)

Tuyến đường Quốc lộ 28 đoạn tránh ngập thủy điện Đồng Nai 3 và 4 dài 36 km qua hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông, Bộ GTVT đã giao cho 2 Sở GTVT Lâm Đồng và Đắk Nông làm chủ đầu tư thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Quốc lộ 28 đoạn tránh ngập thuỷ điện Đồng Nai 3 và 4, cụ thể:

- Dự án đầu tư xây dựng Quốc lộ 28 đoạn tránh ngập thuỷ điện Đồng Nai 3 và 4, đoạn qua tỉnh Lâm Đồng: Có quy mô tiêu chuẩn cấp IV miền núi, dài 15,37 km, tổng mức đầu tư 477 tỷ đồng; sử dụng nguồn vốn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, trong đó vốn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam mới tạm thống nhất bố trí cho Dự án khoảng 171 tỷ, vốn trái phiếu Chính phủ 306 tỷ. Theo báo cáo của Sở Giao thông vận tải Lâm Đồng tại văn bản số 420/SGTVT-KH ngày 03/11/2011, Dự án khởi công từ cuối năm 2009, đến nay mới hoàn thành khoảng 60% khối lượng (thi công xong 3 km đường, nền đường đã cơ bản thi công xong và cầu mới làm được 2/3 khối lượng trụ và dầm dọc) với giá trị xây lắp khoảng 185 tỷ đồng/326 tỷ đồng.

- Dự án đầu tư xây dựng Quốc lộ 28 đoạn tránh ngập thuỷ điện Đồng Nai 3 và 4, đoạn qua tỉnh Đắk Nông: Có quy mô tiêu chuẩn cấp IV miền núi, dài 21 km, tổng mức đầu tư 570 tỷ đồng; sử dụng nguồn vốn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, trong đó vốn của Tập đoàn Điện lực Việt Nam mới tạm thống nhất bố trí cho Dự án khoảng 149 tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ 421 tỷ đồng. Theo báo cáo của Sở GTVT tỉnh Đắk Nông tại công văn số 1849/GTVT – KHTC ngày 4/11/2011, Dự án khởi công từ cuối năm 2009, đến nay mới cơ bản hoàn thành phần nền đường, hệ thống thoát nước, tường chắn đất và phần hạ bộ của cầu, vốn giải ngân cho dự án còn thiếu nhiều do Tập đoàn Điện lực Việt Nam năm 2011 chưa bố trí vốn thanh toán cho dự án.   

Dự án bị chậm tiến độ do tháng 9/2010 thủy điện Đồng Nai 3 tích nước làm ngập nhiều đường công vụ phục vụ thi công đã gây khó khăn cho việc vận chuyển thiết bị, vật tư thi công. Sở GTVT tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông đã phải triển khai phương án đảm bảo giao thông trên tuyến chính, mở mới một số tuyến mới và cầu tạm để phục vụ thi công; Hiện nay nước hồ của thủy điện Đồng Nai 3 dâng nhanh vì lượng mưa lớn.

Để tuyến đường tránh ngập Quốc lộ 28 đoạn qua hai tỉnh sớm hoàn thành, Bộ GTVT sẽ phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông chỉ đạo Sở GTVT tập trung các nguồn lực đẩy nhanh tiến độ thi công công trình trong mùa khô, sớm thông tuyến vào đầu năm 2012 để giải quyết việc đi lại của nhân dân hai tỉnh; Bộ GTVT sẽ ưu tiên  bố trí vốn trái phiếu Chính phủ năm 2012 và tiếp tục đề nghị Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam bố trí vốn còn thiếu khoảng 85 tỷ đồng cho Sở GTVT Lâm Đồng và 107 tỷ đồng cho Sở GTVT Đắk Nông.

8. Về việc lũ gây sụt lở hệ thống đường giao thông tỉnh An Giang (chất vấn của Đại biểu Trần Văn Độ, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang)

Trong những năm vừa qua, khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng xuất hiện hiện tượng sạt lở bờ sông làm hư hỏng nhiều công trình giao thông, ảnh hưởng đến việc đi lại cũng như phát triển kinh tế xã hội của các địa phương như phản ánh của Đại biểu. Đây là một hệ quả của nhiều nguyên nhân trong đó đáng kể là thiên tai, biến đổi khí hậu… và để giải quyết cần có sự phối hợp của các Bộ NNPTNN, Bộ TNMT, Bộ GTVT và UBND các tỉnh trong khu vực.

Từ năm 2007, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020. Trong đó giao Bộ NNPTNT là cơ quan thường trực; đồng thời quyết định cũng đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp trong đó nguồn tài chính cho từng khu vực (bao gồm cả vùng đồng bằng sông Cửu Long). Trên cơ sở đó, các bộ ngành, địa phương theo chức năng nhiệm vụ và phân cấp quản lý, trong quá trình triển khai các chương trình, dự án, lồng ghép các mục tiêu phòng chống giảm nhẹ thiên tai. Chính phủ cũng đã có Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong quyết định đã nêu rõ các giải pháp và nguồn lực tổ chức thực hiện. Trong việc phân bổ nguồn lực, Chính phủ chỉ đạo ưu tiên nguồn lực cho các hạng mục khắc phục bão lũ, thiên tai…

Đối với kết cấu hạ tầng GTVT, theo quy định của Luật Ngân sách, Bộ GTVT quản lý và đầu tư hệ thống hạ tầng GTVT quốc gia, UBND các địa phương quản lý và đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng GTVT địa phương.

Trong thời gian vừa qua, Bộ GTVT đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành và các địa phương trong việc phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai đồng thời lồng ghép các nội dung liên quan trong các quy hoạch chuyên ngành, các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng GTVT để giảm thiểu tác hại của mưa lũ gây ra bao gồm các giải pháp xây dựng hệ thống đường giao thông kết hợp đê chắn sóng có cao trình cao hơn mực nước lũ, xây dựng hệ thống kè chống sạt lở, trồng cây chắn sóng, gia cố công trình, nạo vét dòng chảy; đã ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 199/BGTVT-QĐ ngày 26/1/2011)… Trong thời gian tới, Bộ GTVT sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ ngành và các tỉnh trong khu vực để nghiên cứu, đánh giá diễn biến sạt lở các tuyến dọc kênh, sông đặc biệt sông Tiền, sông Hậu, triển khai thực hiện các giải pháp xử lý phi công trình và công trình phù hợp để phòng, chống sạt lở; Phối hợp với các Bộ ngành trong các chương trình quốc gia phòng chống giảm nhẹ thiên tai; ứng phó biến đổi khí hậu; nghiên cứu và hỗ trợ cho các địa phương về kỹ thuật xây dựng cũng như khắc phục các sự cố công trình, kêu gọi nguồn vốn trong và ngoài nước.

Đối với hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh An Giang, trong thời gian qua lũ lụt làm sạt lở nền mặt đường của một số đoạn trên tuyến Quốc lộ 91 và tuyến N1. Đối với Quốc lộ 91, Bộ GTVT đã xử lý kiên cố hóa tạm thời Quốc lộ 91 để đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến. Do sự cố sạt lở trên Quốc lộ 91 diễn biến hết sức phức tạp nên Bộ GTVT đã giao Tổng cục Đường bộ Việt Nam nghiên cứu tổng thể diễn biến dòng chảy của sông Hậu trên địa bàn tỉnh An Giang để có cơ sở đưa ra giải pháp xử lý kiên cố hóa sạt lở Quốc lộ 91 trên địa bàn tỉnh An Giang đảm bảo ổn định lâu dài. Đối với tuyến N1, hiện tượng sạt lở xảy ra từ tháng 9/2011 với tổng chiều dài các đoạn khoảng 1.200m qua địa phận huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Bộ GTVT đã chỉ đạo các đơn vị xử lý khẩn cấp bằng các giải pháp đóng cọc cừ tràm, xếp bao tải cát để bảo vệ nền mặt đường, đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến. Khi nước rút Bộ GTVT sẽ chỉ đạo các đơn vị khảo sát cụ thể và có biện pháp khắc phục ổn định lâu dài. 

9. Việc khắc phục con đường Quốc lộ 61, 63, 80, tuyến N1 qua địa phận tỉnh Kiên Giang (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang)

- Trên địa phận tỉnh Kiên Giang có 4 tuyến Quốc lộ: QL61 (dài 44Km), QL63 (dài 74Km), QL80 (133Km) và tuyến N1 (40Km) với tổng chiều dài khoảng 291km. Ngoại trừ Quốc lộ 61, các quốc lộ còn lại (QL63, QL80 và tuyến N1) đã được Bộ GTVT uỷ thác cho địa phương (Sở GTVT Kiên Giang) chịu trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo trì đường bộ. Theo kế hoạch bảo trì đường bộ năm 2011, nguồn kinh phí được cấp phục vụ cho công tác bảo trì đường bộ cụ thể như sau: QL61 là 9,894 tỷ đồng kể cả đoạn tuyến QL61 trên địa phận tỉnh Hậu Giang; QL63 là 6,276 tỷ đồng; QL80 là 19,047 tỷ đồng; tuyến N1 là 1,499 tỷ đồng.

- Nguồn kinh phí bảo trì đường bộ được Nhà nước cấp hàng năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 50% so với nhu cầu thực tế, chỉ đảm bảo được công tác duy tu, sửa chữa thường xuyên và đáp ứng một phần cho công tác sửa chữa định kỳ. Kết quả, một số tuyến quốc lộ vẫn xảy ra hiện tượng hư hỏng cục bộ mặt đường, làm ảnh hưởng đến việc lưu thông trên đường.

- Đồng thời, hiện tượng lưu hành xe quá tải trọng cho phép trên đường bộ đang trở nên khá phổ biến. Đây là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự xuống cấp, hư hỏng của hệ thống đường bộ. Để giải quyết tình trạng xe quá tải, Bộ GTVT đang triển khai thí điểm 2 trạm kiểm tra tải trọng xe tại Đồng Nai và Quảng Ninh và đã trình Chính phủ Dự án xây dựng đồng bộ các trạm kiểm tra tải trọng xe trên phạm vi toàn quốc nhằm kiểm soát tình trạng xe quá tải trọng cho phép lưu hành trên đường bộ và đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.

- Do nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông (xây dựng mới hoặc nâng cấp, cải tạo các tuyến quốc lộ hiện hữu) là rất lớn, trong khi nguồn vốn rất hạn chế, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ của nhu cầu, nên trước mắt, một số đoạn tuyến quốc lộ huyết mạch, tuyến quốc lộ kết nối khu vực kinh tế trọng điểm như QL1, QL51… sẽ được ưu tiên mở rộng, cải tạo, nâng cấp sớm. Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay, Bộ GTVT đã và đang triển khai một số hợp phần thuộc Dự án xây dựng hành lang ven biển phía Nam, như tuyến tránh thành phố Rạch Giá và Dự án nâng cấp cải tạo một số đoạn tuyến trên QL80, QL63 và QL61.

- Liên quan đến vấn đề đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang nêu, Bộ GTVT sẽ chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan tiến hành kiểm tra hiện trường và xử lý ngay nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên địa phận của tỉnh. Hiện tại, Bộ GTVT đang xây dựng kế hoạch bảo trì đường bộ năm 2012, trong đó các đoạn tuyến trên QL80, QL63, QL61 trên địa phận tỉnh Kiên Giang, đặc biệt các đoạn tuyến đi qua khu vực đô thị, khu dân cư sẽ được bố trí vốn sửa chữa cục bộ mặt đường tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu hành của các phương tiện giao thông trên đường bộ.

10. Về nâng cấp Quốc lộ 20, Tỉnh lộ 769 phục vụ vận chuyển bô-xit qua tỉnh Đồng Nai (chất vấn của Đại biểu Trương Văn Vở, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai)

Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam thống nhất phương án tuyến đường vận chuyển phục vụ cho ngành công nghiệp nhôm giai đoạn khi chưa có cảng Kê Gà và các biện pháp để đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh môi trường theo các quy định hiện hành, trong đó trên địa phận tỉnh Đồng Nai sẽ phải cải tạo, sửa chữa Quốc lộ 20 và đường tỉnh lộ 769.

Về đường tỉnh, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã hoàn thành việc lập dự án đầu tư cải tạo, sửa chữa tuyến đường tỉnh lộ ĐT 769, bàn giao cho Sở GTVT Đồng Nai thực hiện đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, theo kế hoạch dự kiến tháng 12/2011 khởi công và hoàn thành tháng 12/2012 dự án đường tỉnh trên.

Đối với dự án khôi phục, cải tạo Quốc lộ 20 đoạn từ Dầu Giây – Bảo Lộc, Bộ GTVT đang chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam đẩy nhanh tiến độ hoàn tất các thủ tục đầu tư theo hình thức BT để phấn đấu có thể khởi công vào cuối tháng 12/2011. Trong khi chưa triển khai đầu tư Quốc lộ 20 được ngay, Bộ GTVT đã yêu cầu Tổng cục Đường bộ Việt Nam phải tăng cường đảm bảo giao thông, sửa chữa các vị trí xung yếu hư hỏng cục bộ nền, mặt đường đoạn qua tỉnh Đồng Nai bằng nguồn vốn sự nghiệp kinh tế.

11. Về việc xây dựng sân bay Long Thành (chất vấn của Đại biểu Võ Thị Dung, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh)

Căn cứ số liệu thống kê, lưu lượng hành khách năm 2010 tại Cảng Hàng không quốc tế (HKQT) Tân Sơn Nhất đã đạt trên 15 triệu hành khách (trong đó hơn 7 triệu khách quốc tế và hơn 8 triệu khách nội địa) và hơn 340.000 tấn hàng hóa (gồm hơn 230.000 tấn hàng hóa quốc tế và hơn 110.000 tấn hàng hóa nội địa). Trong vòng 15 năm qua, lượng hành khách quốc nội tăng trưởng với tốc độ 13,4% /năm, hành khách quốc tế tăng trưởng 9,3% /năm; khối lượng vận chuyển hàng hóa quốc tế và quốc nội tăng cùng tỷ lệ là 13,1% /năm. Với tốc độ tăng trưởng như trên, dự báo Cảng HKQT Tân Sơn Nhất sẽ đạt công suất là 20-25 triệu hành khách/năm và khoảng từ năm 2015-2018 sẽ quá tải. Tuy nhiên, việc mở rộng để nâng công suất Cảng HKQT Tân Sơn Nhất không thể thực hiện được do nằm trong khu vực mật độ dân cư cao, không thể triển khai được hệ thống giao thông mặt đất tiếp cận tương ứng, mặt khác việc phát triển sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khu dân cư như tiếng ồn, khí thải...

Do đó, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hành khách, hàng hóa trong tương lai khi Cảng HKQT Tân Sơn Nhất quá tải, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch xây dựng Cảng HKQT Long Thành tại Quyết định số 909/QĐ-TTg ngày 14/6/2011 với mục tiêu là Cảng Hàng không trung chuyển trong khu vực Đông Nam Á, có khả năng cạnh tranh với các cảng hành không lớn trên thế giới và khu vực.

Cảng HKQT Tân Sơn Nhất vẫn tiếp tục sử dụng song song với Cảng HKQT Long Thành. Sau năm 2030, căn cứ vào điều kiện cụ thể tại thời điểm đó để xem xét quyết định mức độ hoạt động của Cảng HKQT Tân Sơn Nhất với tính chất, quy mô hợp lý.

Về nguồn vốn đầu tư: Tổng mức đầu tư xây dựng Cảng HKQT Long Thành giai đoạn 1 theo quy hoạch dự kiến là 6.744,7 triệu USD và sẽ được huy động từ các nguồn vốn: PPP, vốn doanh nghiệp, vốn liên doanh liên kết, ODA, vốn ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ.

Về hiệu quả của Dự án: Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ mới phê duyệt quy hoạch Cảng HKQT Long Thành và chưa có quyết định đầu tư xây dựng. Bộ GTVT đang chỉ đạo lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án Xây dựng Cảng HKQT Long Thành. Dự kiến trong quý II năm 2012 hoàn thành và sẽ trình Quốc hội xem xét.

12. Về dự án xây dựng sân Golf với khu dịch vụ có nhà cao tầng trong khu vực tại sân bay Tân Sơn Nhất và Gia Lâm (chất vấn của Đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh)

- Các Dự án sân golf và khu dịch vụ Long Biên và Tân Sơn Nhất được thực hiện trên các khu đất do Bộ Quốc phòng quản lý và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý tại văn bản số 489/TTg-NN ngày 1/4/2008 theo đề nghị của Bộ Quốc phòng tại văn bản số 6985/BQP-TM ngày 21/12/2007.

- Để đảm bảo các công trình thuộc các Dự án trên tuân thủ các quy định hiện hành của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) và Luật Hàng không dân dụng Việt Nam hiện hành, các Cơ quan của Bộ GTVT và Bộ Quốc phòng đã có biên bản thỏa thuận để quản lý và đảm bảo các công trình thuộc Dự án không vượt quá các bề mặt chướng ngại vật áp dụng cho hoạt động bay hàng không dân dụng (hiện nay, Bộ Quốc phòng chủ trì quản lý chướng ngại vật hàng không theo quy định tại Nghị định số 20/2009/NĐ-CP ngày 23/2/2009 của Chính phủ về Quản lý chướng ngại vật hàng không và các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời tại Việt Nam).

- Độ cao các công trình thuộc các Dự án trên sẽ tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của ICAO và Luật Hàng không dân dụng Việt Nam về giới hạn chướng ngại vật hàng không. Do vậy, có thể loại trừ nguyên nhân xảy ra sự cố do Dự án này gây ra vì không tuân thủ các quy định hiện hành.

Bộ GTVT cũng chỉ đạo cơ quan của Bộ là Cảng vụ Hàng không miền Nam thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc đảm bảo an toàn bay trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất. Trong quá trình triển khai Dự án, Cơ quan này sẽ thường xuyên theo dõi, giám sát trực tiếp đảm bảo các công trình không vượt quá bề mặt chướng ngại vật theo quy định cho hoạt động bay hàng không dân dụng.

13. Về chủ trương cắt, giảm, hoãn các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình theo Nghị quyết 11 của Chính phủ (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Tiến Sinh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hòa Bình)

Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ, Bộ GTVT cùng đoàn công tác của Chính phủ do Bộ KHĐT dẫn đầu đã rà soát toàn bộ danh mục các dự án theo tiêu chí của Nghị quyết 11 xác định danh mục các dự án đáp ứng tiêu chí tiếp tục triển khai đầu tư và các dự án tạm dừng, tạm hoãn.

Chúng tôi nhất trí với ý kiến của Đại biểu, việc đình hoãn các dự án đang thi công dở dang có ảnh hưởng nhất định tới đời sống kinh tế xã hội của đông đảo nhân dân và làm gia tăng tai nạn giao thông. Ngoài ra, còn làm phát sinh một số chi phí, tổn thất đối với các hạng mục dở dang, phát sinh một số thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng hiện nay chưa có quy định điều chỉnh.

Bộ GTVT đã có văn bản số 2879/BGTVT-KHĐT ngày 19/5/2011 báo cáo Thủ tướng Chính phủ các khó khăn vướng mắc khi đình hoãn các dự án theo Nghị quyết 11 và các kiến nghị nhằm đảm bảo an toàn giao thông, hạn chế tối đa các tổn thất đối với các công trình đang thi công dở dang cũng như đời sống  nhân dân. Hiện nay Thủ tướng đang giao cho Bộ KHĐT chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng nghiên cứu xử lý.

Trong thời gian tới, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT đang chỉ đạo rà soát lại toàn bộ danh mục các dự án đang thi công dở dang và xử lý theo hướng:

- Cân đối nguồn vốn năm 2011 để tập trung cho các dự án có thể hoàn thành trong năm 2011.

- Xác định danh mục các dự án cần phải hoàn thành năm 2012 để ưu tiên bố trí vốn trong kế hoạch được phân bổ năm 2012.

- Đối với các dự án còn lại, rà soát đanh giá và lập danh mục các dự án có khả năng chuyển đổi sang hình thức đầu tư hợp tác nhà nước - tư nhân ( BOT, BT...) đồng thời kêu gọi đầu tư từ khu vực tư nhân. Đối với các dự án không thể chuyển đổi hình thức đầu tư, Bộ GTVT sẽ phối hợp với các Bộ ngành, địa phương để kêu gọi nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện. Trường hợp không có nguồn vốn hợp pháp khác sẽ phải tạm dừng đình hoãn.

Song song đó, Bộ GTVT đang chỉ đạo các chủ đầu tư, các Ban QLDA (Văn bản số 2701/BGTVT-QLXD) thực hiện các thủ tục liên quan để ngăn ngừa các thiệt hại do phải giãn tiến độ, đảm bảo an toàn giao thông, hạn chế tối đa ảnh hưởng của việc đình hoãn các dự án đang triển khai đến đời sống nhân dân: Tập trung thi công dứt điểm đến điểm dừng kỹ thuật đặc biết ưu tiên khu vực đông dân cư, các hạng mục có nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa lũ; tổ chức công tác đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến; tổ chức quản lý mặt bằng công trường; hoàn chỉnh các thủ tục quản lý đầu tư xây dựng phát sinh do việc đình hoãn...

14. Về kế hoạch sáp nhập các công ty hoa tiêu vào 2 Tổng công ty Đảm bảo hàng hải (chất vấn của Đại biểu Trần Văn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau)

Thứ nhất, về ý kiến việc sáp nhập này trái với các quy định của pháp luật hiện hành về hàng hải:

Điều 170 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, về tổ chức Hoa tiêu hàng hải quy định:

“1. Tổ chức hoa tiêu hàng hải là tổ chức cung cấp dịch vụ dẫn tàu biển ra, vào cảng biển, hoạt động trong một vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc của Việt Nam.

 2. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng hải.”

Ngày 28/11/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 173/2007/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của hoa tiêu hàng hải; ngày 21/6/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 49/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 11 Nghị định số 173/2007/NĐ-CP. Theo quy định tại Nghị định số 173/2007/NĐ-CP:

- Điều 4, khoản 1 quy định: “Công ty hoa tiêu là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.”

- Điều 7 về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty hoa tiêu, khoản 1 quy định:

“1. Tổ chức cung cấp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cung cấp dịch vụ hoa tiêu hàng hải trong vùng hoa tiêu bắt buộc hoặc tuyến dẫn tàu được giao, bảo đảm chất lượng dịch vụ, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật.”

- Điều 13. Tổ chức lại hoa tiêu hàng hải hiện có trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam: “Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc tách, sáp nhập các tổ chức hoa tiêu hàng hải hiện có thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thành công ty hoa tiêu độc lập.”

Ngày 24/10/2011, Bộ trưởng Bộ GTVT ban hành Quyết định số 2399/QĐ-BGTVT và Quyết định số 2400/QĐ-BGTVT chuyển nguyên trạng các Công ty hoa tiêu hàng hải Khu vực I, V, VII, VIII, IX về làm đơn vị thành viên của Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam; các Công ty hoa tiêu Khu vực II, III, IV, VI về làm đơn vị thành viên của Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc.

Việc chuyển nguyên trạng này không trái với các quy định của pháp luật vì các lý do sau đây:

* Về vấn đề tổ chức:

Tại Điều 1 Quyết định số 2399/QĐ-BGTVT và Quyết định số 2400/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định: “Các doanh nghiệp có tên trên là đơn vị thành viên của Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải, có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các quyền và nghĩa vụ với Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải.”

Theo các Quyết định này, các Công ty Hoa tiêu hàng hải là đơn vị thành viên của Tổng công ty có tư cách pháp nhân.

Tại Bộ luật Dân sự, Điều 84 quy định về pháp nhân như sau:

“Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Được thành lập hợp pháp.

2. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.

3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.

4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Chuyển về Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải nhưng các công ty Hoa tiêu hàng hải là đơn vị thành viên và vẫn có đủ 4 yếu tố của một pháp nhân: được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Nói một cách khác, về bản chất các công ty Hoa tiêu hàng hải khi chuyển về Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải là các đơn vị thành viên độc lập.

Đồng thời, cũng theo các Quyết định nêu trên của Bộ trưởng Bộ GTVT, các công ty Hoa tiêu hàng hải có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, các Quyết định nêu trên không trái với quy định của Nghị định số 173/2007/NĐ-CP (Điều 13).

Ngoài ra, tại Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 04/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp Nhà nước có quy định doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực, trong đó có Bảo đảm an toàn hàng hải. Theo Quyết định số 1089/QĐ-BGTVT và Quyết định số 1099/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT về việc thành lập các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải thì Công ty mẹ - Tổng công ty là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Như vậy, các công ty Hoa tiêu hàng hải (thuộc Bộ GTVT trước đây) là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước khi được chuyển nguyên trạng vào Tổng công Bảo đảm an toàn hàng hải thì Nhà nước vẫn sở hữu 100% vốn điều lệ và không trái với quy định tại Nghị định số 173/2007/NĐ-CP (Điều 4, khoản 1).

Đồng thời, khi chuyển các công ty Hoa tiêu hàng hải về Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải thì Bộ GTVT cũng đã giao cho Công ty mẹ các Tổng công ty thay mặt Bộ GTVT làm đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các công ty này. Theo Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 173/2007/NĐ-CP (Điều 13), Bộ trưởng Bộ GTVT có thẩm quyền về tách, sáp nhập các công ty Hoa tiêu. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương hiện nay của Chính phủ về tái cơ cấu các doanh nghiệp do Nhà nước là chủ sở hữu.

* Về cơ chế tài chính của công ty Hoa tiêu; thu, nộp và sử dụng phí hoa tiêu hàng hải quy định tại Nghị định số 49/2011/NĐ-CP (Điều 11)

Là đơn vị thành viên của Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải, các công ty Hoa tiêu hàng hải có tư cách pháp nhân (Điều 84, Bộ luật Dân sự). Khi đó, các công ty này vẫn phải chấp hành các quy định tại Nghị định số 49/2011/NĐ-CP về thu nộp, sử dụng phí hoa tiêu hàng hải…Như vậy, việc chuyển các công ty Hoa tiêu hàng hải về các Tổng công ty cũng không vi phạm các quy định của Nghị định 49/2011/NĐ-CP.

Thứ hai, về ý kiến việc sáp nhập này trái với thông lệ quốc tế, có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hoa tiêu hàng hải trong bảo đảm “an ninh hàng hải, góp phần bảo vệ chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia”

Tại Quyết định số 2399/QĐ-BGTVT và Quyết định số 2400/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ GTVT, Điều 2 khoản 4 quy định rõ: “Trong quá trình bàn giao hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị phải giữ ổn định đảm bảo tuyệt đối an toàn, an ninh hàng hải”. Như vậy, Bộ GTVT rất coi trọng vấn đề này và các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải, các công ty hoa tiêu hàng hải phải chấp hành nghiêm túc quy định trên của Bộ GTVT.

Thực chất, hoạt động dẫn tàu của hoa tiêu hàng hải là hoạt động bảo đảm an toàn hàng hải. Các hoa tiêu hàng hải được giao nhiệm vụ dẫn tàu phải bằng kiến thức, kinh nghiệm để dẫn tàu từ vùng đón trả hoa tiêu ra, vào cầu cảng, bến cảng, bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, góp phần bảo vệ chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia.

Hoạt động của các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải với nhiệm vụ chính là bảo đảm an toàn hàng hải cho tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài hành trình trên các vùng biển của Việt Nam, vào cảng biển Việt Nam bằng việc xây dựng, quản lý, vận hành và duy trì tình trạng hoạt động tốt của luồng cảng biển, hệ thống báo hiệu hàng hải, kịp thời công bố thông báo hàng hải khi xảy ra sự cố mất an toàn, an ninh hàng hải. Các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải cũng có trách nhiệm góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên trên biển bằng các nhiệm vụ xây dựng, quản lý, vận hành các đèn biển trên các đảo trong đó có Quần đảo Trường Sa để hướng dẫn tàu thuyền đi lại an toàn.

Như vậy, việc sáp nhập các tổ chức hoa tiêu hàng hải vào các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải làm cho nhiệm vụ dẫn tàu của hoa tiêu gắn chặt hơn với nhiệm vụ bảo đảm an toàn hàng hải của các Tổng công ty, 2 nhiệm vụ này bổ trợ cho nhau, kết hợp với nhau và đều là dịch vụ công ích. Hoa tiêu hàng hải giám sát, kiểm chứng khách quan về điều kiện thực tế của hệ thống luồng, báo hiệu hàng hải, kịp thời thông báo cho các đơn vị quản lý vận hành luồng hàng hải sửa chữa, khắc phục các sự cố, đồng thời, qua đó giúp cho việc dẫn tàu của hoa tiêu hàng hải được dễ dàng, thuận lợi và an toàn hơn. Công tác này càng hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời và an toàn hơn nếu nằm dưới sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của một tổ chức là Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải.

Về thông lệ quốc tế, tất cả các nước có tổ chức hoa tiêu hàng hải đều coi dịch vụ hoa tiêu hàng hải là một trong những dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải. Về hình thức tổ chức, tổ chức hoa tiêu có thể là Tổng công ty, công ty, hiệp hội do Nhà nước hoặc tư nhân thành lập, quản lý. Ví dụ: ở Singapore, tổ chức hoa tiêu trực thuộc Tổng công ty Cảng Singapore (PSA) (Tổng công ty này quản lý, khai thác cảng Singapore và các dịch vụ hàng hải trong đó có dịch vụ hoa tiêu). Mỗi một tổ chức hoa tiêu hoạt động trong một vùng hoa tiêu nhất định. Ngoài ra, không có công ước quốc tế nào quy định bắt buộc các tổ chức hoa tiêu phải trực thuộc một cơ quan quản lý nhà nước.

Theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc cho các đơn vị hoa tiêu tổ chức dẫn tàu. Theo quy định của Nghị định số 173/2007/NĐ-CP, mỗi một công ty hoa tiêu được Cục Hàng hải Việt Nam giao 1 vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc hoặc một tuyến dẫn tàu trên cơ sở vùng hoa tiêu hàng hải bắt buộc do Bộ trưởng Bộ GTVT quy định. Cục Hàng hải Việt Nam thay mặt Bộ GTVT quản lý nhà nước về công tác hoa tiêu, tổ chức đào tạo, cấp giấy chứng nhận khả năng chuyên môn và giấy chứng nhận vùng cho hoa tiêu hàng hải.

Các công ty hoa tiêu khi chuyển về các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải, cá nhân hoa tiêu hàng hải phải chấp hành các quy định liên quan nêu trên. Như vậy, việc các công ty hoa tiêu hàng hải là đơn vị thành viên của các Tập đoàn, Tổng công ty đã có tiền lệ, không trái với với quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, không ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ hoa tiêu hàng hải.

Hiện nay, việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng Bộ GTVT và quyết định của Bộ trưởng Bộ GTVT đã thông suốt, không ảnh hưởng tới hoạt động của hoa tiêu hàng hải, bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải, góp phần bảo vệ chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia.

Thứ ba, về việc thí điểm cổ phần hóa Xí nghiệp Hoa tiêu Vũng Tàu

Hiện nay, có 3 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hoa tiêu hàng hải đang là đơn vị thành viên của các tập đoàn, tổng công ty, công ty (Công ty Hoa tiêu Tân Cảng thuộc Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Công ty TNHH một thành viên Hoa tiêu hàng hải VINACOMIN thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và Xí nghiệp Hoa tiêu Vũng Tàu thuộc Công ty Dịch vụ và Vận tải biển Vũng Tàu).

Ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản số 1251/TTg-KTN về việc cổ phần hóa Công ty Dịch vụ và Vận tải biển Vũng Tàu, trong đó cho phép thí điểm cổ phần hoá Xí nghiệp Hoa tiêu Vũng Tàu theo đề nghị của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Mục 3 của văn bản trên ghi “Giao Bộ Giao thông vận tải theo dõi sau một năm thực hiện, sơ kết việc thí điểm cổ phần hóa Công ty Dịch vụ và Vận tải biển Vũng Tàu có thực hiện dịch vụ hoa tiêu hàng hải và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện”.

Hiện nay, Công ty Dịch vụ và Vận tải biển Vũng Tàu (trong đó có Xí nghiệp Hoa tiêu Vũng Tàu) đang thực hiện cổ phần hóa. Mô hình này có thể nhân rộng hoặc điều chỉnh, thay đổi tùy thuộc vào kết quả tổ chức thực hiện. Nếu cần thiết, Bộ Giao thông vận tải sẽ đề xuất thay đổi các quy định của pháp luật về hoa tiêu hàng hải cho phù hợp với thực tiễn.

Vì vậy, sau một năm thực hiện, Bộ GTVT sẽ tổ chức sơ kết, đánh giá, tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy định tại văn bản số 1251/TTg-KTN. Việc chuyển nguyên trạng các công ty Hoa tiêu hàng hải vào các Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải không ảnh hưởng đến việc thí điểm cổ phần hóa nêu trên.

15. Việc tỉnh lộ, huyện lộ các tỉnh miền núi phía Bắc xuống cấp do vận chuyển khoáng sản, xây dựng thủy điện (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Lâm Thành, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn)

Theo quy định Luật Đường bộ và Luật Ngân sách, hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ (đường địa phương) do các địa phương quản lý và đầu tư. Trong những năm qua hệ thống đường địa phương đã từng bước được nâng cấp với quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật đủ khả năng phục vụ kinh tế xã hội với các phương tiện vận tải có tải trọng phù hợp với quy định.

Tuy nhiên, ở một số địa phương có dự án đầu tư xây dựng thủy điện, khai khoáng... có nhu cầu vận tải lớn, hầu hết các xe vận tải phục vụ các dự án này đều quá tải, quá khổ trong khi chúng ta chưa có hệ thống kiểm soát tải trọng nên hệ thống đường địa phương đã xuống cấp nghiêm trọng như phản ánh của Đại biểu.

Để khắc phục tình trạng này, về công tác quản lý nhà nước, trước đây cũng như gần đây, Bộ GTVT đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tải trọng, khổ giới hạn đường bộ; lưu hành xe quá tải trọng, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích trên đường bộ; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; giới hạn xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên đường bộ (Thông tư số 07/2010/TT-BGTVT ngày 11/2/2010 và Thông tư số 03/2011/TT-BGTVT ngày 22/2/2011), làm cơ sở để các địa phương quản lý, khai thác hệ thống kết cấu hạ tầng đường bộ địa phương. Bộ GTVT cũng đã đề xuất cho thí điểm khôi phục hai trạm kiểm soát tải trọng xe từ năm 2008 và đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thí điểm, đồng thời kiến nghị cho phép đầu tư đầu tư xây dựng hệ thống trạm kiểm soát tải trọng đường bộ.

Trong thời gian tới, Bộ GTVT tiếp tục thực hiện một số giải pháp như sau: 

- Tổ chức tuyên truyền, vận động để nâng cao ý thức của toàn dân, đặc biệt là các lái xe, doanh nghiệp vận tải thực hiện đúng các quy định về tải trọng khai thác và an toàn giao thông.

- Phối hợp với UBND các tỉnh chỉ đạo tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm; Kiến nghị Chính phủ cho phép tăng nặng mức xử phạt đối với trường hợp quá khổ quá tải đủ mức răn đe.

- Triển khai xây dựng hệ thống kiểm soát tải trọng phương tiện.

- Phối hợp với các địa phương, bộ ngành trong quá trình cấp phép đầu tư các dự án yêu cầu các Chủ đầu tư dự án bổ sung phương án vận tải trong đó xác định cụ thể chủng loại phương tiện vận tải và khả năng đáp ứng của hệ thống kết cấu hạ tầng. Nếu hệ thống kết cấu hạ tầng cần phải được tăng cường, nâng cấp, Chủ đầu tư dự án phải tính toán bổ sung phần kinh phí tăng cường vào dự án và thực hiện việc tăng cường trước khi đầu tư dự án.

 - Đối với các dự án đang triển khai, đang khai thác, đề nghị UBND các tỉnh rà soát xem xét trách nhiệm của các Chủ đầu tư đối với việc xuống cấp của hệ thống cơ sở hạ tầng; đồng thời huy động mọi nguồn lực hợp pháp để từng bước nâng cấp.

16. Vấn đề khó khăn khi trở thành Bộ trưởng GTVT và giải pháp giải quyết nạn ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông, nâng cao chất lượng làm cầu, đường (chất vấn của Đại biểu Nguyễn Bá Thuyền, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng)

Được Quốc hội và Chính phủ giao nhiệm vụ làm Bộ trưởng Bộ GTVT, tôi luôn ý thức được trách nhiệm của người đứng đầu ngành GTVT. Một trong những khó khăn đặt ra đối với ngành GTVT nói riêng và của toàn xã hội nói chung, chính là tình trạng ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông, tình trạng xuống cấp của nhiều tuyến đường hiện nay.

Để khắc phục khó khăn trên, tôi và các cán bộ, nhân viên của ngành GTVT đang nỗ lực thực hiện các giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo, nghiên cứu và đưa ra các biện pháp có tính đột phá để trình Thủ tướng Chính phủ nhằm hạn chế tối đa tai nạn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông. Tôi mong rằng, Đại biểu với cương vị của mình sẽ hướng dẫn cử tri cùng đồng thuận với các Bộ, ngành thực hiện các giải pháp để giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Như Đại biểu đã nhận xét, mặc dù trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương thực hiện nhiều giải pháp để hạn chế ùn tắc giao thông và giảm thiểu tai nạn giao thông song kết quả đạt được không đáp ứng yêu cầu đặt ra, số vụ tai nạn giảm không đáng kể, còn nhiều người chết và bị thương vì tai nạn giao thông.

Bộ GTVT đã và đang cùng các Bộ, ngành liên quan, các tỉnh, thành phố thực hiện quyết liệt theo nội dung của Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24/8/2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Một số giải pháp trọng tâm được Bộ GTVT thực hiện hoặc phối hợp thực hiện để giảm thiểu tai nạn giao thông, khắc phục ùn tắc giao thông và nâng cao chất lượng công trình giao thông:

Giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, khắc phục ùn tắc giao thông:

- Tiếp tục hoàn thiện, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật;

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức;

- Xây dựng Đề án hạn chế phương tiện cá nhân tham gia giao thông tại các thành phố lớn;

- Xây dựng Đề án khai thác đường Hồ Chí Minh, giảm tải phương tiện trên tuyến quốc lộ 1;

- Xây dựng Đề án vận chuyển container kết hợp giữa đường bộ và đường sắt nhằm giảm tải phương tiện vận chuyển bằng đường bộ;

- Tập trung lực lượng thực hiện giải phóng lòng đường, vỉa hè; giải phóng hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt;

- Phân làn đường bằng giải phân cách cứng, phân cách mềm, tổ chức thực hiện việc chấp hành đi đúng làn đường theo quy định, tổ chức làn đường cho phép phương tiện rẽ phải tại các nút giao thông;

- Xử lý triệt để đối với doanh nghiệp, lái xe vi phạm các điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô;

- Tăng tối đa mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

- Tăng cường tần suất hoạt động của xe buýt, đặc biệt trong giờ cao điểm;

- Thực hiện tịch thu phương tiện tham gia đua xe trái phép, giữ phương tiện trong trường hợp người điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe;

- Quy định thời gian làm việc và học tập cụ thể trong ngày đối với cán bộ công chức, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công trình giao thông:

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác phân cấp trong quản lý đầu tư xây dựng của ngành, đồng thời tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát đầu tư. Rà soát cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước;

- Xây dựng đề án quản lý, giám sát tiến độ, chất lượng, công tác bảo đảm giao thông, an toàn lao động và vệ sinh môi trường công trình xây dựng bằng công nghệ tin học, để cập nhật kịp thời kết quả thực hiện của các chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn theo quy định cũng như xử lý nhanh các vấn đề liên quan;

- Nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan đến vi phạm về tiến độ và chất lượng công trình;

- Rà soát, kiến nghị sửa đổi, điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật và chế độ chính sách trong đầu tư xây dựng cơ bản;

- Kiên quyết xử lý đối với các nhà thầu thi công không bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình.

Chúng tôi đang phối hợp với thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thực hiện các giải pháp, phấn đấu cuối năm 2012 tình trạng ùn tắc giao thông sẽ được giảm thiểu cơ bản, việc nâng cao chất lượng công trình đang được các đơn vị thực hiện./.