(Chinhphu.vn)- Bà Nguyễn Thu (ngthu79@...) làm việc tại 1 cơ quan nhà nước thuộc TP. Hải Phòng. Theo Nghị định 108/2010/NĐ-CP, Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu thuộc TP. Hải Phòng được phép áp dụng mức lương tối thiểu vùng II là 1.200.000đ. Nhưng cơ quan bà áp dụng mức lương tối thiểu vùng IV là 830.000đ. Như vậy có đúng quy định không? 

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Trường hợp áp dụng mức lương tối thiểu vùng

Ngày 29/10/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 108/2010/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;  Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động.

Tại Điều 2, Nghị định 108/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, ở các doanh nghiệp đang hoạt động tại các vùng như sau: Mức 1.350.000 đồng/tháng áp dụng đối với địa bàn thuộc vùng I; Mức 1.200.000 đồng/tháng áp dụng đối với địa bàn thuộc vùng II; Mức 1.050.000 đồng/tháng áp dụng đối với địa bàn thuộc vùng III; Mức 830.000 đồng/tháng áp dụng đối với địa bàn thuộc vùng IV.

Theo Phụ lục I Danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng từ ngày 1/1/2011 (ban hành kèm theo Nghị định số 108/2010/NĐ-CP) thì các địa bàn tại TP. Hải Phòng được áp dụng như sau: Các quận và các huyện Thủy Nguyên, An Dương, An Lão, Vĩnh Bảo áp dụng mức lương tối thiểu vùng II (1.200.000đ/tháng) ; Các huyện còn lại thuộc TP. Hải Phòng áp dụng mức tối thiểu vùng III (1.050.000 đồng/tháng).

Việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 4 Nghị định 108/2010/NĐ-CP như sau:

- Đối với Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp: Được lựa chọn mức lương tối thiểu cao hơn so với mức lương tối thiểu vùng  quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính đơn giá tiền lương, quỹ tiền lương của thành viên chuyên trách Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và Kiểm soát viên chuyên trách.

- Đối với các doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài): Áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành.

Ngày 22/8/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định 70/2011/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động. Mức lương tối thiểu vùng, việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định này đã có thay đổi. Nghị định 70/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2011 và bãi bỏ Nghị định số 108/2010/NĐ-CP .

Trường hợp áp dụng mức lương tối thiểu chung

Ngày 4/4/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2011/NĐ-CP về mức lương tối thiểu chung. Từ ngày 1/5/2011, mức lương tối thiểu chung 830.000 đồng/tháng được thực hiện đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Việc áp dụng mức lương tối thiểu chung được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2011/NĐ-CP như sau: Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Để giải đáp thắc mắc của bà Nguyễn Thu về việc áp dụng mức lương tối thiểu nào để tính lương và phụ cấp là đúng quy định, cần phải căn cứ vào loại hình của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và hệ thống thang lương, bảng lương, phụ cấp mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó đang áp dụng.

Nếu đúng như bà Thu phản ánh, bà đang làm việc tại Cơ quan Nhà nước thuộc TP. Hải Phòng, thì cơ quan đang áp dụng thang lương, bảng lương, phụ cấp lương ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, việc áp dụng mức tiền lương tối thiểu chung 830.000 đồng/tháng (theo Nghị định 22/2011/NĐ-CP) làm căn cứ tính các mức lương và phụ cấp là đúng.

Luật sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.