(Chinhphu.vn) - Ngày 3/7, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm “Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh”.

Các khách mời tham dự tọa đàm - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Với quyết tâm kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, ngày 12/5/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025.

Nghị quyết đặt mục tiêu trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025, cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh.

Đồng thời, trước diễn biến hết sức phức tạp và tác động tiêu cực của dịch COVID-19 đến kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân và doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, tổng hợp các quy định của pháp luật cụ thể gây cản trở, vướng mắc, khó khăn cho sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó và giảm thiểu tác động của dịch COVID-19 đến nền kinh tế.

Những quyết sách trên của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang được cộng đồng doanh nghiệp đón đợi sớm đi vào cuộc sống.

Nhằm chủ động cung cấp thông tin về kết quả, nỗ lực của các bộ, ngành trong việc rà soát, cắt giảm các quy định của pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp thực tiễn, gây khó khăn cho doanh nghiệp, kìm hãm sự phát triển, đồng thời ghi nhận đề xuất, hiến kế của các chuyên gia, lãnh đạo hiệp hội doanh nghiệp…, Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức tọa đàm “Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh”.

Khách mời tọa đàm: Bà Nguyễn Chi Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế, Bộ Tư pháp; ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam; bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương. 

Sau đây là nội dung chính cuộc toạ đàm:

Ngày 12/2/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long làm Tổ trưởng, xin bà có thể chia sẻ đôi nét về những nhiệm vụ trọng tâm cũng như ưu tiên trước mắt của Tổ công tác trong bối cảnh chúng ta đang ứng phó với những tác động của dịch COVID-19 để khôi phục phát triển kinh tế?

Bà Nguyễn Chi Lan, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự-kinh tế, Bộ Tư pháp - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bà Nguyễn Chi Lan: Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp mạnh mẽ, tạo sự chuyển biến tích cực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Nhìn một cách tổng thể, đến nay chúng ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội; chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật từng bước được nâng lên, đóng góp quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, hệ thống pháp luật vẫn còn những hạn chế, bất cập, nhất là vẫn còn những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp thực tiễn chưa được kịp thời khắc phục. Chính vì thế, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Tổ công tác về rà soát văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện các quy định mâu thuẫn, chồng chéo, các quy định gây cản trở sự phát triển, từ đó kịp thời kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các biện pháp, chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật để giải phóng nguồn lực, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế-xã hội.

Tổ công tác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long làm Tổ trưởng, các thành viên là đại diện lãnh đạo nhiều bộ, ngành, cơ quan Trung ương và một số tổ chức đại diện cho doanh nghiệp nhằm phát huy trí tuệ liên ngành, tập hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến của người dân, doanh nghiệp để phát hiện và kiến nghị giải pháp xử lý cho được những bất cập trong hệ thống pháp luật, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác tập trung thực hiện 2 nhiệm vụ chủ yếu là: Tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan liên quan thực hiện công tác rà soát vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật; Rà soát độc lập, chuyên sâu các quy định của pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn, kìm hãm sự phát triển để kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm giải phóng nguồn lực tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế-xã hội. Hai nhiệm vụ trên cho thấy sự kỳ vọng của Thủ tướng Chính phủ đối với vai trò độc lập, khách quan của Tổ công tác trong việc phát hiện và tham mưu kịp thời Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xử lý những bất cập mang tính tổng thể, liên ngành của hệ thống pháp luật.

Ngay sau khi thành lập, Tổ công tác đã khẩn trương ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, trong đó, Tổ công tác đã nghiên cứu và nhận diện được 11 chuyên đề trọng tâm, ưu tiên rà soát chuyên sâu trong năm 2020, cụ thể là các nhóm quy định về: Điều kiện gia nhập thị trường, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp; phê duyệt, triển khai, tổ chức thực hiện, chấm dứt dự án đầu tư (gồm cả dự án đầu tư công); tài chính, thuế; quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, kinh doanh bất động sản; lao động, việc làm và an sinh xã hội; hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh trong kinh doanh, phá sản doanh nghiệp; kiểm tra chuyên ngành (trọng tâm là kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu); bổ trợ tư pháp, tiếp cận pháp luật của doanh nghiệp; phân công, phân cấp, phân quyền, ủy quyền trong quản lý nhà nước về kinh tế; các quy định pháp luật bảo đảm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; rà soát, kiến nghị xử lý các quy định gây cản trở sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó và giảm thiểu tác động của dịch COVID-19 đến nền kinh tế.

Đây là các nội dung liên quan mật thiết đến hoạt động đầu tư, kinh doanh. Các quy định pháp luật trong các lĩnh vực này luôn tiềm ẩn nguy cơ mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không phù hợp thực tiễn. Với khối lượng công việc rất lớn, thời gian thực hiện gấp, để bảo đảm tiến độ và chất lượng của kết quả rà soát, Tổ trưởng Tổ công tác đã phân công các thành viên Tổ công tác trực tiếp tham gia chỉ đạo 11 nhóm rà soát đối với 11 chuyên đề nêu trên.

Tổ công tác được thành lập, đi vào hoạt động giữa lúc dịch bệnh COVID-19 đang tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội. Vì vậy, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổ công tác đã phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, ngành có liên quan khẩn trương rà soát các quy định pháp luật gây cản trở, vướng mắc, khó khăn cho sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó và giảm thiểu tác động của dịch COVID-19 đến nền kinh tế. Qua đó, đã kịp thời tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những giải pháp cụ thể hỗ trợ người dân, doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn, từng bước phục hồi nền kinh tế. Đối với 10 chuyên đề còn lại, hiện nay, các nhóm rà soát đang khẩn trương hoàn thành việc rà soát, gửi báo cáo về Bộ Tư pháp - cơ quan thường trực Tổ công tác để tổng hợp, xây dựng báo cáo chung của Tổ công tác, trình Thủ tướng Chính phủ. Tổ công tác sẽ có các hình thức tham vấn rộng rãi, thực chất các chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng điều chỉnh của pháp luật, nhất là về các giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá trình rà soát văn bản.

Bên cạnh việc rà soát độc lập, chuyên sâu đối với các chuyên đề, lĩnh vực nêu trên, Tổ công tác sẽ tập trung đôn đốc, chỉ đạo, hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ theo Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ ban hành. Dự kiến, các bộ, cơ quan ngang bộ sẽ hoàn thành việc rà soát và gửi báo cáo kết quả rà soát về Bộ Tư pháp. Tổ công tác sẽ có ý kiến chính thức đối với kết quả rà soát văn bản của từng bộ, cơ quan ngang bộ để gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Chính phủ về kết quả rà soát đối với toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan Trung ương ban hành trước khi trình Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2020.

Từ góc độ Hiệp hội, ông có chia sẻ gì về nhiệm vụ cũng như hoạt động của Tổ công tác về rà soát văn bản quy phạm pháp luật?

Ông Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ông Tô Hoài Nam: Trước hết, có thể thấy, khi chưa có Tổ công tác, việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật đã nằm trong luật rồi và Bộ Tư pháp là cơ quan quan trọng thực hiện việc này. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn chậm và không quyết liệt nên Chính phủ đưa ra một cơ chế mạnh mẽ hơn là thành lập Tổ công tác. Qua thực tiễn, một số tổ công tác thì thấy nó có hiệu quả vì nó có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, nó tạo nên sự trao đổi thông tin mạnh mẽ hơn và nó phát hiện ra các vấn đề nhanh hơn. Đây là một thiết chế rất thực tiễn đối với Việt Nam.

Việc thành lập Tổ công tác tập trung vào cải cách thủ tục hành chính có nhiều ý nghĩa như thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong cả khu vực công lẫn khu vực tư; tạo môi trường minh bạch trong dịch vụ công; nhiệm vụ của Tổ công tác gắn với Nghị quyết 68 coi doanh nghiệp, người dân là trọng tâm. Như vậy, ý nghĩa phục vụ của nó được ưu tiên trên ý nghĩa quản lý.

Từ góc độ chuyên gia, bà có thể phân tích rõ hơn về những tác động của các quy định chồng chéo, bất cập gây khó khăn, kìm hãm sự phát triển?  

Bà Nguyễn Minh Thảo: Nghị quyết 68 là kết quả hành động trong cả một quá trình mà Chính phủ tập trung vào cải thiện môi trường kinh doanh. Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, do tác động của dịch COVID-19, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, vì vậy, hơn bao giờ hết, doanh nghiệp cần những cải cách về môi trường kinh doanh. Nghị quyết 68 ra đời trong bối cảnh hết sức ý nghĩa đối với doanh nghiệp.

Những năm vừa qua, chúng ta đã nỗ lực cải cách liên quan đến điều kiện kinh doanh, liên quan đến kiểm tra chuyên ngành và các chỉ số cụ thể về môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, thực tế, hoạt động kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do chịu tác động của những quy định chồng chéo, mẫu thuẫn trong nhiều văn bản pháp luật. Các văn bản pháp luật này được soạn thảo bởi các cơ quan khác nhau, phân tán bởi nhiều văn bản khác nhau và có thực tế là không phải văn bản nào cũng nằm ở cấp nghị định mà có văn bản nó nằm ở cấp luật.

Từ 2019, Chính phủ nhận thấy các vấn đề chồng chéo, mâu thuẫn cần phải được giải quyết nếu không sẽ dẫn tới rủi ro cho cả nhà đầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước khi thực hiện hoạt động quản lý. Chính vì vậy, năm 2020, Chính phủ đã quyết định thành lập Tổ công tác. Đây là một cách thức đã phát huy hiệu quả.

Xin bà có thể chia sẻ đôi nét về nguyên nhân của tình trạng các quy định của pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập vẫn còn tồn tại và chậm được khắc phục?

Bà Nguyễn Chi Lan: Thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, chỉ đạo. Theo đó, hệ thống pháp luật cơ bản được được hoàn thiện, hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội mà còn bảo đảm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra, theo dõi, đôn đốc và thẩm định văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), Bộ Tư pháp nhận thấy vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất và chậm sửa đổi các văn bản QPPL. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có các nguyên nhân cơ bản sau:

Nguyên nhân khách quan: Kinh tế-xã hội có sự biến động nhanh, nhiều quan hệ xã hội mới phát sinh, khó dự báo; Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 mới có hiệu lực 03 năm quy định nhiều điểm mới mang tính đột phá, đặc biệt là tách quy trình xây dựng chính sách ra khỏi quy trình soạn thảo, yêu cầu chặt chẽ về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản. Chính vì vậy, việc đề nghị xây dựng, sửa đổi, bổ sung một số loại văn bản phải trải qua 02 quy trình nên thời gian xây dựng văn bản thường kéo dài, dẫn đến tình trạng chậm ban hành.

Nguyên nhân chủ quan: Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 đã quy định trách nhiệm của các các bộ, cơ quan ngang bộ phải chủ động rà soát để sửa đổi theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL, các bộ, cơ quan ngang bộ vẫn chưa chủ động thực hiện tốt quy định này dẫn tới vẫn còn tồn tại những quy định mâu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống các văn bản QPPL. Một nguyên nhân chủ quan nữa là ở một số cơ quan, cán bộ làm công tác xây dựng, thẩm định văn bản QPPL còn thiếu về số lượng, năng lực chuyên môn còn nhiều hạn chế.

Để giải quyết vấn đề này trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Tiếp tục thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015; các bộ, cơ quan ngang bộ cần chủ động tiến hành việc rà soát để sửa đổi theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những quy định không còn phù hợp, chồng chéo, mâu thuẫn; đầu tư nguồn lực thỏa đáng đi đôi với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong công tác xây dựng pháp luật; củng cố, kiện toàn và phát huy đầy đủ, hiệu quả vai trò của tổ chức pháp chế tại các bộ, ngành; thu hút sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, chuyên gia pháp lý vào quá trình xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là có sự tham vấn ý kiến các đại biểu Quốc hội ngay từ giai đoạn đầu.

Về phía Bộ Tư pháp, chúng tôi sẽ tiếp tục và đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau: Phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì lập đề nghị, chủ trì soạn thảo nghiên cứu kỹ về sự cần thiết, phạm vi điều chỉnh, mối quan hệ với các luật hiện hành có liên quan trước khi đề xuất đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; nâng cao chất lượng công tác thẩm định. Đồng thời, thường xuyên phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tiến hành rà soát các quy định của pháp luật nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo; tiếp tục quan tâm và nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước và thực hiện kiểm tra văn bản theo thẩm quyền để bảo đảm phát hiện và xử lý kịp thời những văn bản trái pháp luật.

Có ý kiến cho rằng việc áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật chưa phát huy hiệu quả như mong đợi, xin được biết quan điểm của bà về ý kiến này?

Bà Nguyễn Chi Lan: Trên thực tế, có 2 hình thức một luật sửa nhiều luật được áp dụng. Ðó là hình thức một văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch... Hình thức này cho phép “gom” tất cả các văn bản có liên quan do cùng một cơ quan ban hành vào để cùng sửa một lần. Cách làm này tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức cho cơ quan chủ trì soạn thảo cũng như các cơ quan trong quá trình thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật. Hình thức này đúng nhất với bản chất của kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản”.

Hình thức khác là một luật mới được ban hành trong đó sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một hoặc một số điều trong một số luật do cùng một cơ quan ban hành. Ðược sử dụng tương đối phổ biến, hình thức này chỉ sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ một số điều, khoản của một số luật có liên quan trong luật mới ban hành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Do việc đồng thời sửa nhiều quy định của một số luật hiện hành nên tính công khai, minh bạch của hình thức này không rõ ràng như hình thức thứ nhất và có thể, nhiều nội dung không được xem xét một cách thấu đáo và cẩn trọng.

Mặc dù được đánh giá là có nhiều ưu điểm nhưng việc áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật đang có xu hướng gia tăng và bị lạm dụng. Việc một luật sửa nhiều luật làm cho hệ thống pháp luật trở nên thiếu ổn định, cồng kềnh, khó kiểm soát, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tôi cho rằng, việc áp dụng tương đối tùy tiện kỹ thuật một luật sửa nhiều luật xuất phát từ những nguyên nhân sau: Chưa có sự thống nhất về cách hiểu và cách áp dụng kỹ thuật lĩnh vực này; một số luật được sửa đổi, bổ sung được áp dụng đồng thời cả 2 hình thức nêu trên. Thực tế cho thấy các trường hợp được áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật như hiện nay là quá rộng, khó kiểm soát, đặc biệt với trường hợp trong văn bản đề nghị ban hành có nội dung liên quan một hoặc nhiều văn bản khác do cùng một cơ quan ban hành mà trong văn bản đề nghị ban hành có quy định khác với văn bản đó. Ðể khắc phục những hạn chế và bất cập nêu trên, theo tôi, cần có giải pháp đồng bộ. Trong đó, cần luật hóa các trường hợp một văn bản sửa nhiều văn bản trong Luật Ban hành văn bản QPPL. Cần quy định các tiêu chí cụ thể, điều kiện chặt chẽ cho việc áp dụng kỹ thuật này, chủ yếu áp dụng hình thức thứ nhất như đã nêu ở trên, tránh lạm dụng khi chưa xem xét thấu đáo toàn bộ hệ thống pháp luật. Cần tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan trong việc rà soát xây dựng, ban hành văn bản áp dụng kỹ thuật một văn bản sửa nhiều văn bản.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025 với mục tiêu là cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Từ góc độ Hiệp hội, ông nhìn nhận thế nào về mục tiêu này và ông có đề xuất gì về những lĩnh vực còn nhiều dư địa cần ưu tiên rà soát?  

Ông Tô Hoài Nam: Nhìn nhận về mục tiêu trên, có thể nói đây là mục tiêu khó. Vì sao khó, vì cái dễ chúng ta đã làm. Bây giờ những cái khó phải đi vào chiều sâu hơn, đụng chạm đến quyền lợi của nhiều ngành.  

Thứ hai là phải phụ thuộc rất nhiều vào sự sửa đổi kịp thời của các văn bản pháp luật khác. Thực hiện hành chính mà không căn cứ vào các quy định của pháp luật thì không làm được. Vì bản thân người thực hiện cũng là một công chức, phải thực hiện công vụ của mình theo luật, nên phải chờ đợi văn bản quy định để tổ chức thực hiện.

Thứ ba, đến giai đoạn này, bắt buộc cán bộ ngoài nhiệt huyết cần phải có trình độ. Nếu chỉ có quyết tâm và nhiệt huyết, chính trị nhưng không đủ trình độ thì rất khó đổi mới cũng như tiếp cận trình độ mới, cập nhật thông tin khái quát, toàn diện hơn, tiếp cận với các hệ thống điện tử… đòi hỏi cán bộ phải có năng lực.

Về dư địa, bắt buộc chúng ta phải lựa chọn: Thứ nhất theo nguyên tắc, thủ tục nào có thể bỏ được, ta nên bỏ. Thứ 2, thủ tục nào có thể hậu kiểm được nên chuyển sang hậu kiểm. Thủ tục nào có thể sử dụng bằng điện tử, tin học thì chúng ta nên sử dụng.

Một cách hiểu khác của doanh nghiệp về dư địa của cải cách là pháp luật cần theo kịp với thực tiễn để tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh. Ví dụ như kinh tế ban đêm, trong khi dịch COVID-19 đang diễn ra, chúng ta cần tăng cường thị trường nội địa. Liệu có nên xem việc ban hành hành lang pháp lý sớm cho hoạt động này phát triển. Theo tính toán của Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và vừa Việt Nam, nếu kinh tế ban đêm được khai thác đúng mức thì tăng doanh thu dịch vụ, du lịch nội địa khoảng 25%. Đây là doanh nghiệp hiểu như vậy, vì cải cách cũng phải dựa vào thực tiễn. Tôi cho rằng trong thời điểm hiện nay, chúng ta nên có những mạnh dạn, táo bạo như vậy. Không nên quản lý, điều hành các văn bản quy phạm pháp luật theo cách cứng nhắc, mà phải kịp thời thay đổi. 

Tiếp nối thành công trong việc cắt giảm, đơn giản hóa được 63% điều kiện kinh doanh, 68% danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, theo bà, trong thời gian tới, những lĩnh vực nào có nhiều quy định pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn cản trở sự phát triển cần được ưu tiên rà soát? 

Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Nghiên cứu Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Bà Nguyễn Minh Thảo: Đúng là trong mấy năm gần đây, Chính phủ đã nỗ lực chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ của các bộ, ngành. Như báo cáo có nêu, có hơn 60% điều kiện kinh doanh được cắt giảm cũng như danh mục kiểm tra chuyên ngành một số các mặt hàng đã được cắt bỏ. Tương tự như vậy, chúng ta phải tìm một cách thức để áp dụng đối với việc rà soát, sửa đổi chồng chéo này như thế nào, cần phải tìm cách tiếp cận phù hợp bởi vấn đề chúng ta đã nêu ra được từ lâu, vậy xử lý vấn đề này như thế nào.

Hiện nay, trong hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, những mâu thuẫn trong quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng là những quy định có nhiều mâu thuẫn, chồng chéo nhiều nhất. Trước mắt, chúng tôi rất ủng hộ việc dùng một luật sửa nhiều luật bởi vì không thể trình Quốc hội sửa nhiều luật có liên quan do sự chồng chéo này nằm ở nhiều luật, mà trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng là những lĩnh vực có sự chồng chéo nhiều nhất. Tất nhiên, chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm từ những bài học trước đây chúng ta chưa thành công. Tại sao trước đây chúng ta đã từng có ý tưởng dùng một luật sửa nhiều luật liên quan đến lĩnh vực nói trên nhưng không thành công. Bởi vì khi đó không có một cơ quan hay tổ chức kết nối, chỉ đạo được các bộ, ngành cùng thực hiện để làm sao thống nhất được các ý kiến. Vì bộ, ngành nào cũng cho rằng ý kiến của mình là đúng, khi lập luận không có bộ, ngành nào thấy mình sai, không hợp lý. Điều này rất khó để đưa đến sự đồng thuận.

Như anh Nam vừa chia sẻ, phải xác định rõ một bộ, ngành nào chủ trì trình lên, tôi nghĩ thường là các bộ, ngành không tự nhận ra cái bất cập, vướng mắc trong bộ, ngành của mình. Những mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập đó thường do các đơn vị độc lập như VCCI, các viện nghiên cứu… họ nhận diện ra trên cơ sở họ làm việc với địa phương, doanh nghiệp.

Bởi vậy, cơ quan, đơn vị nào đứng ra chủ trì, điều này cần phải suy nghĩ. Nếu một bộ cụ thể nào đó, họ thường có thiên hướng ủng hộ ý tưởng của họ. Mô hình Tổ công tác tôi nghĩ là phù hợp vì mô hình Tổ công tác có thể lựa chọn các thành viên tham gia, cũng như đội ngũ giúp việc có chuyên môn trong các lĩnh vực để soạn thảo các văn bản có liên quan. 

Đồng thời, có một điểm vô cùng quan trọng cần chú ý là chúng ta kết nối với cộng đồng doanh nghiệp. Bởi vì hơn ai hết, cộng đồng doanh nghiệp là đối tượng chịu tác động trực tiếp bởi những văn bản đó, vì thế sự tham gia của đại diện doanh nghiệp có ý nghĩa rất nhiều trong việc tìm kiếm giải pháp đạt được sự đồng thuận, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý vừa tạo sự thông thoáng cho doanh nghiệp. Tôi nghĩ đây là cách tiếp cận có thể áp dụng phù hợp trong thời gian tới.

Việc rà soát, từ đó đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh sẽ dựa trên các nguyên tắc, tiêu chí lớn nào để vừa bảo đảm yêu cầu quản lý Nhà nước vừa tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động kinh tế của người dân, doanh nghiệp, thưa bà?  

Bà Nguyễn Chi Lan: Về bản chất, rà soát văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đối chiếu, đánh giá các quy định của văn bản được rà soát với văn bản, là căn cứ để rà soát tình hình phát triển kinh tế-xã hội nhằm phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp. Qua đó, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, áp dụng, thi hành pháp luật. Việc rà soát văn bản được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL ngày 22 tháng 6 năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL như: Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật; tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục rà soát văn bản văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm tính minh bạch trong rà soát văn bản văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính; bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình rà soát văn bản văn bản quy phạm pháp luật.

Trong bối cảnh hiện nay, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, công tác rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày càng được quan tâm, đặc biệt là việc cắt giảm, đơn giản hóa quy định pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo đó, để vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp thì hoạt động rà soát, phát hiện các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không phù hợp thực tiễn, gây khó khăn, kìm hãm sự phát triển phải được các cơ quan thực hiện thường xuyên, kịp thời. Cùng với việc đánh giá về sự mâu thuẫn, chồng chéo của quy định pháp luật, các cơ quan rà soát cũng phải đánh giá về sự phù hợp với thực tiễn của các quy định thông qua việc theo dõi quản lý nhà nước, các kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp... Từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung đồng bộ các quy định pháp luật để giải phóng mọi nguồn lực tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển kinh tế-xã hội.

Vừa qua, để hỗ trợ các nhóm rà soát, các bộ, ngành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ rà soát, Tổ công tác đã có văn bản đề nghị các bộ, ngành, địa phương, các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn trên cả nước cung cấp thông tin, phản ánh, kiến nghị về các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc không còn phù hợp. Tính đến ngày 30/6/2020, bộ phận thường trực Tổ công tác đã tiếp nhận hàng trăm văn bản của các hội, hiệp hội, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong toàn quốc gửi đến với trên 4.000 nội dung kiến nghị, phản ánh. Qua đó cho thấy, các doanh nghiệp, hiệp hội, cơ quan, tổ chức đã đặt nhiều hy vọng vào hoạt động rà soát, phát hiện các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở sự phát triển để có biện pháp xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Nhân đây, tôi cũng đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cả nước, nếu phát hiện những vướng mắc, bất cập của hệ thống pháp luật, bao gồm các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh thì kịp thời phản ánh, kiến nghị tới Tổ công tác (qua Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp hoặc địa chỉ email: tocongtac236@moj.gov.vn và mục Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị trên Trang thông tin của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật) để tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Bà Nguyễn Minh Thảo: Tôi xin được bổ sung thêm về nội dung này. Ngoài những tiêu chí chị Lan chia sẻ, tôi nghĩ tiêu chí rất quan trọng là phải xem quy định đó có thực sự cần thiết hay không. Nếu không có quy định này, doanh nghiệp có bị ảnh hưởng, cơ quan quản lý nhà nước có bị mất quyền lực không, có quy định đó doanh nghiệp có tốt hơn không. Khi đánh giá được sự cần thiết, các bộ phải cùng nhau xem xét quy định nào cần trước, quy định nào cần sau, quy định nào có thể hậu kiểm được cho doanh nghiệp đáp ứng những yêu cầu, sau đó cơ quan quản lý Nhà nước có thể hậu kiểm, vừa giảm gánh nặng thủ tục cho cơ quan quản lý Nhà nước vừa tạo sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. Nếu quy định đó không thực sự cần thiết, chúng ta có thể giảm bớt, nếu quy định có ý nghĩa, thực sự cần thiết thì phải đơn giản hóa theo hướng chúng ta vẫn quản lý được nhưng vẫn tạo được sự linh hoạt cho doanh nghiệp, tăng hậu kiểm. Hậu kiểm rất quan trọng, chứ không phải đầu vào làm chặt, hậu kiểm gần như là bỏ ngõ. Tôi nghĩ đây có thể là một nguyên tắc khi chúng ta làm hoạt động rà soát, cũng như thiết kế xây dựng các văn bản để tránh những chồng chéo.

Bà Nguyễn Chi Lan: Để bảo đảm tính hiệu quả của điều kiện kinh doanh, tôi cho rằng việc đánh giá tác động, mục tiêu chính sách liên quan đến điều kiện kinh doanh rất quan trọng. Làm sao để lượng hóa, đo lường được hiệu quả, tác động của điều kiện kinh doanh đó đưa ra. Nếu làm tốt được công tác này, nhìn thực sự khách quan, trung lập, đặt hiệu quả kinh tế-xã hội, đặt mục tiêu quản lý Nhà nước thì chúng ta sẽ có những quy định về thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh nó sẽ khả thi.

Thưa ông Nam, ông có những chia sẻ gì thêm về nội dung này?

Ông Tô Hoài Nam: Tôi nghĩ chị Lan và chị Thảo đã chia sẻ khá đầy đủ về nội dung này. Tôi muốn chia sẻ thêm về yếu tố con người. Nếu chúng ta có đầy đủ hết yếu tố, nhưng yếu tố con người là người trực tiếp thực hiện dù ở cấp Trung ương hay địa phương mà không thông suốt thì rất khó làm. Đây là một thực tế của Việt Nam.

Chúng ta phải chú ý tâm lý một bộ phận không nhỏ ngại thay đổi, ngại đụng chạm. Nếu chúng ta không coi trọng mục tiêu, đặt quyền lợi của doanh nghiệp, xã hội, đất nước lên trên mà chúng ta chỉ loay hoay với mục tiêu chỉ để quản lý thì rất khó. Chúng ta phải có quyết tâm cao.

Ý kiến của bà thế nào trước quan điểm cho rằng rất khó để thuyết phục các cơ quan quản lý tự đề xuất cắt bỏ các quy định quản lý chuyên ngành khi mà tư duy quản lý vẫn theo nếp cũ, thậm chí quan niệm “quyền anh, quyền tôi” vẫn tồn tại đâu đó? 

Bà Nguyễn Minh Thảo: Tôi không nghĩ là cán bộ không nhận thức được việc này. Các bộ, ngành hiện nay cũng biết cách làm thế nào để thực sự hiện đại theo cách quản lý hiện đại. Vấn đề ở đây là sự chần chừ trong việc thay đổi. Chần chừ ở đây có một số lý do tương đối mang tính quyền lợi một chút. Thực sự qua một thời gian làm việc với rất nhiều doanh nghiệp và các bộ ngành, chúng tôi thấy sự chần chừ đó còn tồn tại. Tất nhiên ở các bộ, ngành sẽ có những thay đổi khác nhau. Bản thân trong một bộ khi đưa ra những quy định quản lý trong lĩnh vực khác nhau cũng có sự tiếp cận khác nhau.

Thực tế, không có bộ ngành nào tự đưa ra hoặc đơn giản hóa, cắt bỏ điều kiện này, quy định kia. Khoảng 3 năm gần đây, sau khi có chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ cùng với những đánh giá, nhận định một cách độc lập từ các bên liên quan, hiệp hội, từ các phản ánh của doanh nghiệp thì tạo ra áp lực buộc các bộ, ngành phải chủ động rà soát lại các quy định của họ, xem quy định nào thực sự không rõ ràng thì được điều chỉnh sửa đổi lại, quy định nào không hợp lý đã được loại bỏ.

Tuy nhiên, phải thấy rằng, dường như chỉ mới cắt đi hoặc đơn giản hóa những cái đơn giản, còn những cái đem lại quyền lực cho các bộ, ngành thì vẫn còn những quy định như vậy. Vì thế, khi rà soát, đánh giá lần này, tôi nghĩ rằng vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp vô cùng quan trọng. Bởi vì họ là đối tượng chịu tác động trực tiếp và tiếng nói của họ góp phần tạo ra được áp lực để thay đổi. Bên cạnh đó, vai trò của chuyên gia cũng rất quan trọng. Vì chuyên gia có kiến thức chuyên môn, có thể giúp chúng ta nhận diện được với vấn đề bất cập như thế này ta có hướng giải quyết như  thế nào.

Trong việc chúng ta sửa đổi, rà soát thì vai trò kết nối với hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia để giúp chúng ta nhận diện đâu là điểm nghẽn cũng như giải pháp tháo gỡ. Bởi có nhiều trường hợp các bộ, ngành nhìn thấy vấn đề, bất cập nhưng họ không biết dùng công cụ, cách thức nào để xử lý bất cập đó. Vì vậy, sự tham gia của các bên, trong đó là doanh nghiệp, chuyên gia cũng như các bộ, ngành có liên quan rất quan trọng. Đồng thời, tôi nghĩ báo chí là kênh rất hữu hiệu trong việc tạo áp lực để các bộ, ngành thay đổi tư duy, lúc đó chúng ta mới có những cải cách mang tính chất thực chất. Nếu chúng ta tạo áp lực từ trên xuống, đôi khi chúng ta thấy kết quả mang tính chất hình thức hơn những kết quả thực chất từ bản thân bộ, ngành đó chủ động thay đổi.

Nghị quyết 68 đặt ra mục tiêu giai đoạn 2020-2025 cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, tuy nhiên nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách hiện nay về cải thiện môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, người dân thì có nhiều ý kiến cho rằng chúng ta cần đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu này, xin ông có thể chia sẻ quan điểm về ý kiến này?

Ông Tô Hoài Nam: Theo tôi, đẩy nhanh thực hiện mục tiêu trên là việc rất cần thiết, tất nhiên đây là công việc rất khó vì cải cách thủ tục hành chính liên quan mật thiết đến cải cách bộ máy hành chính Nhà nước, mà muốn đi nhanh thì phải có sự đồng tốc.

Thứ hai, cần đặt ra những mốc cụ thể, quan trọng để hướng tới. Đầu tiên là mốc 30/10 năm nay, các bộ, ngành sau khi tự rà soát sẽ đưa ra kế hoạch cắt giảm cho cả giai đoạn từ nay đến năm 2025. Tôi cho rằng đây là mốc khó nhất trong năm 2020 khi các bộ, ngành phải đưa ra được kế hoạch cắt giảm cụ thể của bộ, ngành mình trên cơ sở đó mới thực hiện các bước tiếp theo.

Một điểm cần lưu ý trong cải cách lần này là chúng ta phải nhận diện rõ các rào cản. Nếu ta không nhìn thấy được những rào cản từ bên trong của các cơ quan hành chính thì rất dễ không đạt được kết quả như kỳ vọng. Chúng ta đã có nhiều cải cách rất thành công nhưng cũng có những cái cách kết quả còn hạn chế. Và khi tổng kết lại thì các cơ quan phải chịu trách nhiệm cho việc này đều tìm ra được những lý do chính đáng, khách quan như nhiệm vụ thì nhiều nhưng nguồn lực còn hạn chế… Đó là câu trả lời trong quá khứ, còn nếu đến năm 2025 mà chúng ta lại đưa ra lý do đó thì rất khó để người dân, doanh nghiệp chấp nhận.
Một điểm nữa mà tôi muốn lưu ý khi triển khai thực hiện mục tiêu này, đó là cùng với rà soát, cắt giảm thì chúng ta phải rất cẩn trọng trong việc ban hành các văn bản, quy định mới để tránh tình huống chúng ta tự tạo ra những vướng mắc mới rồi lại bắt tay vào xử lý tiếp.

Một điểm nữa không thể thiếu trong cải cách, đó là cần xây dựng, nhân rộng các mô hình tốt ở các bộ, ngành, địa phương. Muốn làm được việc này cần tăng quyền chủ động cho các địa phương, cấp trên cần tập trung kiểm tra, giám sát, đôn đốc và chỉ can thiệp khi cấp dưới không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chỉ có điều đó mới tạo ra được sự sáng tạo, mà muốn đổi mới thì phải sáng tạo. Tất nhiên, khi giao quyền thì người đứng đầu đơn vị địa phương phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình và phải có cơ chế kiểm tra giám sát chặt chẽ.

Bên cạnh nhiệm vụ theo Quyết định thành lập Tổ công tác, trước yêu cầu cấp bách hiện nay, Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo Bộ Tư pháp, Tổ công tác khẩn trương rà soát, tổng hợp các quy định của pháp luật cụ thể gây cản trở, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh để kịp thời ứng phó và giảm thiểu tác động của dịch COVID-19 đến nền kinh tế. Để thực hiện yêu cầu trên, xin bà có thể chia sẻ những công việc trọng tâm mà Tổ công tác sẽ ưu tiên thực hiện trong thời gian tới?

Bà Nguyễn Chi Lan: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong thời gian tới, Tổ công tác sẽ ưu tiên thực hiện một số công việc trọng tâm sau: Khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành liên quan cần tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định, thông tư) trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng, kinh doanh bất động sản, thuế, hải quan… nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong bối cảnh dịch COVID-19 và thời kỳ hậu COVID-19.

Bộ Tư pháp cũng sẽ tập trung rà soát quy định pháp luật về hợp đồng, giải quyết tranh chấp phát sinh trong kinh doanh, phá sản doanh nghiệp; rà soát quy định pháp luật về tài chính, thuế; quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước; rà soát quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên, môi trường, xây dựng, kinh doanh, bất động sản; rà soát quy định về pháp luật lao động, việc làm và an sinh xã hội. Đồng thời, Bộ sẽ nghiên cứu, tiếp thu các góp ý, đề xuất, kiến nghị của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi về liên quan đến công tác rà soát pháp luật để tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.  

Nhóm PV