(Chinhphu.vn) - Bộ Y tế và Báo điện tử Chính phủ phối hợp tổ chức tọa đàm trực tuyến: "Làm sao để đổi mới y tế cơ sở một cách bền vững?" vào 9h30 sáng 14/9 tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Mô hình bệnh tật thay đổi đòi hỏi y tế cơ sở cũng phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của người dân. Ảnh: VGP/Hiền Minh

Hiện nay, trên cả nước đang có hơn 11.100 trạm y tế xã, phường, thị trấn, thôn, bản…. Đây là mạng lưới y tế cơ sở trực tiếp gần người dân nhất và được kỳ vọng với vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cũng như sàng lọc, phát hiện sớm và kiểm soát bệnh tật. Tuy nhiên, hiện nay mạng lưới cơ sở y tế này chưa thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật, sự phát triển của xã hội, cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

Với khoảng 80% số dân nước ta sống ở vùng nông thôn, thì y tế cơ sở đóng vai trò rất quan trọng. Nghị quyết 20 Hội nghị Trung ương 6, khóa 12 cũng đã đặt ra mục tiêu với ngành y tế là phải bảo đảm "y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng”.

Hiện, ngành Y tế đã và đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới toàn diện và đồng bộ tuyến y tế cơ sở, để nâng cao hiệu quả tầm soát và khám chữa bệnh cho người dân. Tuy nhiên, việc đổi mới này đã có hiệu quả đến đâu, còn những khó khăn, vướng mắc gì và khi nào người dân mới thực sự có niềm tin và cảm nhận y tế cơ sở là nơi gần nhất khi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe.

Xung quanh nội dung này, Bộ Y tế và Báo điện tử Chính phủ phối hợp tổ chức tọa đàm trên với sự tham của các khách mời: Thứ trưởng Bộ Y tế Phạm Lê Tuấn, ông Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội và ông Phạm Quang Hải-Giám đốc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn (Hà Nội).

Dưới đây là nội dung tọa đàm:

Các vị khách mời tham gia Tọa đàm. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Với khoảng 11.162 trạm y tế xã, phường, thị trấn, thôn, bản… trải dài trên cả nước, 80% số dân sống ở vùng nông thôn, xin ông cho biết hiệu quả cũng như thực trạng về hoạt động chăm sóc sức khỏe của mạng lưới y  tế cơ sở này hiện nay, thưa ông?

Ông Phạm Lê Tuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế: Hệ thống trạm y tế của chúng ta rải khắp trên toàn quốc với 11.162 trạm y tế xã, là một trong những điểm mạnh của hệ thống y tế Việt Nam, niềm tự hào của y tế Việt Nam chúng ta. Đây là hệ thống y tế gần dân nhất và không phải nước nào cũng có. Điều này đã được các tổ chức y tế đánh giá cũng như trong Nghị quyết số 20 đã nêu rất rõ vai trò. Vấn đề y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong giai đoạn vừa qua đều thống nhất việc hệ thống y tế cơ sở (tất nhiên hệ thống y tế cơ sở ngoài trạm y tế ra còn có phòng khám đa khoa khu vực và trung tâm y tế huyện) đã đóng góp vai trò rất to lớn trong vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Điển hình nhất là năm 2003, Việt Nam chúng ta là nước đầu tiên khống chế thanh công dịch SAT, trong đó có vai trò của y tế cơ sở. Vì rất gần dân và tăng cường lực lượng chuyên môn ở tuyến trên về nên đã kịp thời phát hiện và kiểm soát khống chế thành công. Bên cạnh đó có rất nhiều chương trình triển khai như tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, phòng chống suy dinh dưỡng, vệ sinh môi trường,... Điều này trong giai đoạn vừa qua đã làm rất tốt, chúng tôi xin khẳng định Việt Nam đã có một hệ thống y tế cơ sở trong đó có trạm y tế tham gia rất tích cực trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Với tình hình mới đặc biệt là khi cơ cấu bệnh tất thay đổi. Cách đây khoảng 20 năm có đến 60-70% các bệnh truyền nhiễm; đến nay bài toán này đã quay ngược lại khoảng 70% là do các bệnh không lây nhiễm, ví dụ tăng huyết áp, tiểu đường, ung thư, hen phế quản, các bệnh tai nạn thương tích,… Việc thích ứng này đã làm nhưng chưa đủ. Vì vậy đây là một trong những điểm cần tập trung.

Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu trước đây trong phần khám chữa bệnh giao nhiệm vụ cho trạm y tế là khám chữa bệnh và cấp cứu thông thường. Như vậy cấp cứu thông thường là đúng, khám chữa bệnh thông thường với mô hình bệnh tật hiện nay bệnh mãn tính không còn là bệnh thông thường. Do đó chuyển tải sang nội dung mới chúng ta phải tăng cường chăm sóc ban đầu.

Vừa qua, tuy có sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong đầu tư nâng cấp hệ thống y tế nói chung và y tế xã nói riêng nhu cầu của còn rất lớn. Bộ Y tế đã trình Chính phủ Chương trình mục tiêu Quốc gia. Nhưng Chương trình mục tiêu Quốc gia với nguồn lực có hạn, mới chỉ có ở một số xã, địa phương, nên chưa được đẩy mạnh. Các địa phương chưa chú trọng lấy ngân sách của mình để làm chương trình này.

Để người dân tin tưởng vào trong thiết kế chính sách trong giai đoạn trước đây, Bộ Y tế có 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện, xã. Trong tư duy những gì đơn giản để cho xã, tiếp theo cao hơn là đến huyện, cao hơn nữa là đến tỉnh và cao nhất là các bệnh viện Trung ương. Việc khám chữa bệnh chưa chuyển đổi kịp nên có tình trạng người dân vượt tuyến trên nhưng thực chất tại các tuyến đầu đều có thể làm được. Ví dụ quản lý các bệnh mãn tính làm ngay được tại xã. Hiện nay có những trường hợp một tháng lên bệnh viện tuyến trên kể cả bệnh viện tỉnh để được khám và những bệnh mãn tính chỉ cần khám 1 lần và cấp thuốc 1 lần gây ra sự không tiết kiệm và không hiệu quả.

Là người có rất nhiều chuyến công tác về tuyến y tế cơ sở trên cả nước, ông có nhận định gì về thực trạng của mạng lưới y  tế cơ sở hiện nay, thưa ông?

Ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: Trong thời gian vừa qua, Ủy ban chúng tôi đã tiến hành rất nhiều cuộc giám sát, khảo sát ở các địa phương và chúng tôi tập trung vào các tuyến y tế cơ sở. Đầu tháng 8/2018 Ủy ban đã tiến hành phiên giải trình về chất lượng hiệu quả của hệ thống y tế cơ sở. Chúng tôi đánh giá toàn diện hệ thống y tế cơ sở những điểm đạt được và những điểm còn tồn tại. Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn đã trình bày rất cơ bản, tôi xin chia sẻ lại một vài điểm hết sức chú ý.

Thứ nhất chúng tôi đánh giá cao quyết tâm chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế, chính quyền các địa phương, cơ sở và các bộ ngành có liên quan. Chúng ta tập trung sức lực như lời Thứ trưởng nói tuy nhiên mức đầu tư cho tuyến y tế xã, phường còn hạn chế. Từ huyện trở lên chúng ta làm tương đối tốt. Đây là một thành tựu.

Thứ hai, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu ở tuyến xã, tuyến huyện cơ bản là người dân hài lòng. Điều này được đánh giá ở sự hài lòng của người dân khi chúng tôi giám sát.

Thứ ba, triển khai được các hoạt động phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên một số dịch bệnh đã bắt đầu tái phát, Bộ Y tế phải nghiên cứu để chúng ta phòng ngừa trước. Trong quan điểm của Quốc hội, chúng ta đã có Nghị quyết 18 dành 30% ngân sách cho y tế để thực hiện phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tuy nhiên các địa phương chưa quan tâm để dành đủ 30% kinh phí của ngành y tế này cho y tế dự phòng. Cho nên nó có thể phát sinh một số dịch bệnh mà trước đây chúng ta đã ngăn cản được.

Bên cạnh những thành tựu như vậy, tôi cho rằng có 4 thách thức tồn tại hiện nay.

Thứ nhất, khả năng cung ứng dịch vụ y tế của tuyến y tế cơ sở, nhất là tuyến xã của chúng ta còn hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực chúng ta phải tiếp tục phát triển hơn.

Thứ hai, chưa làm tốt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để cho nhân dân tự chăm lo sức khỏe hoặc nhận thức đúng về tuyến y tế cơ sở. Ví dụ qua khảo sát, chúng tôi thấy một bệnh rất đơn giản nhưng người dân vẫn lên huyện. Chúng tôi đề nghị Bộ Y tế và Chính phủ nên tổng kết lại việc thông tuyến. Khi chúng ta cho thông tuyến trong điều kiện kỹ thuật chưa xác định được, rõ ràng dẫn đến người dân sẽ chuyển lên tuyến trên và không khám chữa bệnh ở tuyến dưới. Thông tuyến là vấn đề nhân văn, rất tốt nhưng trong điều kiện hiện nay chúng ta phải tính toán lại. Chúng tôi đang xem xét để sửa Luật khám chữa bệnh cho phù hợp.

Thứ ba, tỷ trọng ngân sách nhà nước hiện nay đầu tư cho ngành y tế, ở tuyến xã còn rất hạn chế. Chúng tôi rất mong Chính phủ phải tập trung những nguồn lực từ nước ngoài, vốn ODA, các nguồn lực khác và kể cả ngân sách, làm sao để nâng cấp đồng đều tuyến y tế xã. Như vậy chúng ta mới có khả năng tạo niềm tin cho người dân gắn bó với tuyến y tế, xã, phường, thị trấn.

Cuối cùng là nguồn nhân lực. Tôi vẫn đề nghị với Bộ Y tế, qua giám sát, việc xác định ít nhất trạm y tế xã có một bác sĩ là tốt. Nhưng không nhất thiết đây là mô hình cơ bản. Chúng ta có thể luân chuyển các bác sĩ từ tuyến huyện, tuyến tỉnh xuống tuyến xã làm việc một ngày, hai ngày. Việc làm này có hai mục tiêu: Một là bác sĩ giỏi làm tăng niềm tin của người dân đối với công tác chữa bệnh tuyến y tế cơ sở; thứ hai bác sĩ giỏi, bác sĩ có chuyên môn có chức năng đào tạo hệ thống cán bộ y tế của tuyến xã để làm sao chuyển giao kỹ thuật, nâng cao năng lực.

Trong những năm vừa qua, hệ thống y tế cơ sở xác định có trung tâm y tế bệnh viện tuyến huyện; trạm y tế xã, thôn bản; thực tế chúng ta nên thêm bộ phận y tế tư nhân góp phần làm cho y tế cơ sở của chúng ta mạnh lên. Tôi đề nghị chúng ta cần đánh giá y tế tư nhân và kêu gọi, vận động, khuyến khích y tế tư nhân tham gia cùng y tế cơ sở của nhà nước để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân một cách tốt nhất.

Được đánh giá là một trong những địa phương đi đầu trong phát triển và nâng cao chất lượng tuyến y tế cơ sở, xin ông chia sẻ những ưu điểm hiện nay của các trạm y tế xã thuộc huyện Sóc Sơn trong việc chăm sóc sức khỏe người dân? Các trạm y tế này còn những khó khăn, hạn chế gì, thưa ông?

BS Phạm Quang Hải, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, Hà Nội: Trong thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ; đặc biệt là các văn bản, thông tư của Bộ Y tế đã giúp cho y tế cơ sở từng bước phát triển. Trong năm vừa qua, y tế huyện Sóc Sơn có 26 trạm y tế xã và 5 phòng khám đa khoa khu vực. Trung bình một ngày thực hiện 3 nhiệm vụ: Chăm sóc sức khỏe ban đầu; phòng chống dịch bệnh; vệ sinh an toàn thực phẩm và các chương trình y tế. Hiện tại đang tiếp tục thực hiện thêm chương trình dân số và phát triển khi sát nhập các trung tâm dân số vừa qua.

Từ tháng 7/2014, được sự quan tâm, chỉ  đạo của Bộ Y tế, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, TTYT Sóc Sơn thực hiện thí điểm mô hình bác sĩ gia đình ở một trạm y tế xã và 4 phòng khám đa khoa khu vực. Sau một năm thực hiện, trung tâm đã được hiệu quả rất tốt, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân. Trung tâm đã mở rộng mô hình cho 26 trạm y tế còn lại.

Trong những năm vừa qua về công tác phòng chống dịch, phòng chống bệnh không lây nhiễm, trung tâm thực hiện rất tốt, không có các vụ dịch lớn, vụ ngộ độc thực phẩm lớn xảy ra.

Công tác khám chữa bệnh ban đầu, trung bình một ngày trung tâm khám từ 2000 – 2500 bệnh nhân.

Về quản lý bệnh không lây nhiễm, trung tâm đã quản lý 38000 bệnh nhân, trong đó có 11000 bệnh nhân cao huyết áp, 5000 bệnh nhân đái tháo đường, hơn 500 bệnh nhân siêu vi D và hen phế quản. Trung tâm đang tiếp tục triển khai mô hình quản lý siêu vi D và hen phế quản trong thời gian tới.

Các trạm y tế thực sự đã phát huy được khả năng khám, chữa bệnh của mình và được người dân thực sự tin tưởng. Một ngày trung bình một trạm y tế của Sóc Sơn khám từ 40-50 bệnh nhân, có những trạm khám từ 60 – 80 bệnh nhân. Thu nhập của cán bộ y tế cũng đảm bảo được cuộc sống của mình và an tâm với phát triển của y tế cơ sở.

Tuy nhiên đầu tư nguồn lực cho y tế dự phòng còn hạn chế. Chưa có chế độ chính sách cho bác sĩ về trạm y tế xã công tác. Cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa được đầu tư để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu. Hiện tại trung tâm y tế Sóc Sơn có 87 bác sĩ, là một trong những trung tâm có số lượng bác sĩ khá lớn. Từ năm 2020, trunng tâm cố gắng: từ 2 – 3 bác sĩ hoặc cử nhân y tế công cộng sẽ có 1 bác sĩ y tế gia đình, bác sĩ đa khoa chuyên khoa về bác sĩ gia đình; thứ hai bác sĩ về đông y; thứ ba cử nhân y tế công cộng hoặc bác sĩ dự phòng để đáp ứng như cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân.

Nói đến trạm y tế xã là người ta nghĩ ngay đến thiếu bác sĩ, người dân còn thiếu, thậm chí là không có niềm tin vào khả năng khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Thứ trưởng nghĩ như thế nào về điều này? Bác sĩ Hải có chia sẻ bản thân không phải đơn vị cơ sở nào cũng có nhiều điều kiện để có hơn 80 bác sĩ, ý kiến của Thứ trưởng như thế nào?

Ông Phạm Lê Tuấn: Trong ngành y, một trong những vấn đề mấu chốt quan trọng nhất và quyết định nhất tới năng lực cung ứng dịch vụ đó là vấn đề trình độ chuyên môn của cán bộ. Bộ Y tế trong nhiều năm qua đã triển khai phấn đấu tỷ lệ bác sĩ làm việc tại các trạm y tế cao nhất, nghĩa là một trạm y tế có một bác sĩ, có cả y sĩ. Tỷ lệ hiện nay có khoảng hơn 85% trạm y tế đã có bác sĩ làm việc. Trạm y tế là một bộ phận của trung tâm y tế không như trước đây tách biệt và phụ thuộc vào xã.

Bộ Y tế cũng đã có thông tư quy định về chế độ luân chuyển, chế độ xã hội. Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu nói chung và đặc biệt là vấn đề y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc bà mẹ trẻ em làm rất tốt. Chính vì vậy chúng ta được Liên Hiệp Quốc vinh danh là một trong những điểm sáng về việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ.

Điểm yếu ở đây là năng lực quản lý bệnh mãn tính, nguồn lực có hạn và nhận thức của địa phương còn hạn chế nên triển khai còn chậm…

Trọng tâm đầu tiên là nâng cao năng lực cho bác sĩ, cán bộ y tế, nhân viên y tế nói chung, Sóc Sơn là một điển hình trong việc triển khai. Bên cạnh đó có Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà Nội đã đào tạo bác sĩ gia đình. Có những trường hợp như ở Huế bác sĩ về xã và không muốn chuyển lên tuyến trên, người dân đến khám có bác sĩ tốt nên không muốn đi nơi khác. Bệnh viện Sóc Sơn hiện nay là bệnh viện thành phố, bệnh viện hạng 2 nhưng người dân vẫn đến trạm y tế. Đây là một điều đúng. Khi làm tốt thì niềm tin tăng lên. Niềm tin ở đây là niềm tin khám chữa bệnh, chứ không phải khám dự phòng. Chăm sóc cho người khỏe là chính, phát hiện sớm và xử lý điều trị kịp thời. Toàn bộ việc khám chữa bệnh này do ngân sách cấp, bên cạnh đó còn có chế độ bảo hiểm y tế. Khám chữa bệnh các bệnh mãn tính, Bộ Y tế xác định đây là điểm chuyển đổi còn chậm, cần tập trung vào vấn đề này và hoàn toàn có khả năng làm được.

Một vài ý kiến cho rằng trạm y tế  xã rất vắng, năng lực kém, thực tế là có nhưng tôi nghĩ cần xem lại. Ngay từ sự quan tâm đầu tư, sự nhận thức về nó. Rõ ràng niềm tin của người dân cũng bị ảnh hưởng chính vì vậy mới lên tuyến trên. Vì vậy nên tập trung làm thế nào để có niềm tin. Đồng chí Bộ trưởng đã quyết định đưa bệnh viện Trung ương về để giúp cho xã.

Trong giai đoạn vừa qua, một trong những việc làm giúp cho Sóc Sơn phát triển y tế cơ sở là đào tạo bác sĩ gia đình. Bác sĩ gia đình là bác sĩ chuyên khoa đa khoa, được đào tạo rất kỹ và rất rộng, tất cả các bệnh thông thường và các bệnh không lây nhiễm bác sĩ đều phát hiện được. Bác sĩ nắm rõ được lịch sử bệnh của bệnh nhân đồng thời tiền sử bệnh của gia đình. Vào thời điểm có những dấu hiệu bệnh, bác sĩ tư vấn cho người dân đi khám sàng lọc. Khám sàng lọc sớm tốt cho việc điều trị. Với bác sĩ gia đình, người dân được thăm hỏi, trao đổi về sức khỏe một cách cụ thể. Khám chữa bệnh ở tuyến trên rất đông nên việc thăm hỏi, trao đổi, tư vấn cũng hạn chế. Không phải các bác sĩ không muốn làm nhưng tâm lý bệnh nhân ai cũng muốn khám nhanh.

Tập trung vào vấn đề tăng cường cho các y tế cơ sở, đầu tiên là đào tạo nâng cao trình độ. Bộ Y tế đã đưa ra những giải pháp, nếu như đào tạo bài bản chuyên khoa I 3 năm thì rất lâu chúng ta mới làm được. Vì vậy sẽ đào tạo ngắn hạn, chia ra các chương trình khác nhau. Chương trình của Bộ Y tế làm chỉ từ 4 – 5 ngày, các bác sĩ đã thực hành để khám chuẩn đoán được những bệnh lây nhiễm như tiểu đường, cao huyết áp,… sau đấy tiếp tục được học và đào tạo thêm. Về đổi mới đào tạo, chúng tôi đã đưa giảng viên về ngay tại huyện, như vậy các bác sĩ không phải đi lên tuyến trên. Song song với đó là những chương trình 3 tháng, 1 năm và các chương trình khác nhau. Sắp tới chúng tôi sẽ áp dụng chương trình đào tạo online. Trong phần đào tạo này, ngoài phần lý thuyết, quan trọng nhất là phần thực hành. Bộ Y tế đã đưa ra chỉ đạo trong các thông tư, về phần thực hành nên luân chuyển, đưa các bác sĩ vào các bệnh viện tuyến trên, được va chạm chuyên môn, từ đó kỹ năng lâm sàng, năng lực thực hành được nâng lên.

Qua thực tế đi công tác, phóng viên nhận thấy có một số y tế cơ sở (tại TTYT huyện ở Cao Bằng), mặc dù có bác sĩ ngoại khoa, có bác sĩ gây mê, nhưng Trung tâm vẫn không thể triển khai thực hiện ngoại khoa, ông có nhận định như thế nào về vấn đề này?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Tôi đánh giá mô hình như Sóc Sơn là điểm sáng về mô hình y tế cơ sở. Bộ Y tế phải nhân mô hình này lên và trở thành mô hình các địa phương phải nghiên cứu và làm theo. Qua khảo sát đánh giá, người dân không phải lên tuyên trên để khám, trạm y tế xã có thể tư vấn tất cả các loại bệnh. Tôi cho rằng Bộ Y tế phải xem đây là điểm sáng, rút kinh nghiệm và nhân diện rộng trên cả nước.

Hiện tượng ở Cao Bằng, có 3 nguyên nhân chính: Thứ nhất là hạn chế về danh mục tuyến chuyên môn kỹ thuật. Bộ Y tế sửa Thông tư 37 thành Thông tư 15, đây chính là chúng ta sửa những điều bất hợp lý trong Thông tư 37. Thứ hai thiết bị, cơ sở vật chất, điều kiện để bác sĩ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn thiếu. Cuối cùng là năng lực của các bác sĩ, y sĩ tuyến cơ sở không đủ năng lực.

Vì vậy khi đầu tư cho tuyến cơ sở phải đồng bộ cả về: chuyên môn, năng lực bác sĩ, đội ngũ cán bộ y tế; cơ sở vật chất để chúng ta thực hiện; máy móc thiết bị. Ba vấn đề này là trọng tâm. Bây giờ chúng ta đã khám được bệnh, thấy được bệnh, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh đề án về y tế cơ sở để làm sao cho y tế cơ sở thực sự là cửa ngõ ban đầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Đó chính là chúng ta đang tạo ra niềm tin cho người dân đối với y tế cơ sở và tránh được việc chuyển tuyến, vượt tuyến, quá tải ở Trung ương.

Mô hình bác sĩ gia đình được ngành y tế coi là một trong các giải pháp căn cơ, lâu dài để giảm tải bệnh viện tuyến trên cũng như nâng cao chất lượng tuyến y tế cơ sở, vậy mô hình này đã được triển khai như thế nào tại huyện Sóc Sơn và đã đem lại hiệu quả như thế nào? Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện như thế nào?

BS Phạm Quang Hải: Khi Thông tư 16 của Bộ Y tế thí điểm về bác sĩ gia đình tại 8 tỉnh thành thì TTYT huyện Sóc Sơn đã nhận được sự quan tâm trực tiếp của lãnh đạo Bộ Y tế cũng như sự phối hợp chặt chẽ với BHYT Hà Nội, sự chỉ đạo quyết liệt của Sở Y tế Hà Nội, UBND huyện nên mô hình bác sĩ gia đình được triển khai sớm từ tháng 7/2014. Đến tháng 7/2015, trung tâm đã triển khai đủ 31 cơ sở khám bệnh bác sĩ gia đình, mô hình này đã thực sự mang lại hiệu quả và niềm tin cho người dân. Khi triển khai mô hình này, người dân được chăm sóc sức khỏe gần như toàn diện từ khi sinh ra đến khi mất đi.

Về quản lý sức khỏe toàn dân, trung tâm đã triển khai quản lý, khám chữa bệnh, tối thiểu mỗi người dân được khám 1 lần/năm và được nhập dữ liệu lên hệ thống công nghệ thông tin để lưu dữ liệu về những lần khám chữa bệnh này để bác sĩ tiện theo dõi, chúng tôi đã triển khai được 97,4% người dân được khám.

Chính nhờ triển khai mô hình này mà chúng tôi được người dân tin tưởng, số lượng người khám chữa bệnh tăng lên rất nhiều, trung bình một ngày khám từ 2000-2500 lượt bệnh nhân, tương đương số lượng bệnh nhân khám chữa ở 4 bệnh viện tuyến huyện cộng lại. Thu nhập của cán bộ trung tâm đã tăng lên và đồng thời thu hút được bác sĩ của các tỉnh lân cận về làm việc tại Sóc Sơn.

Về chuyển tuyến, năm 2010 chúng tôi chuyển khoảng 60%, nhưng đến năm 2017, tỉ lệ này đã giảm xuống còn 8%, năm 2018 này chúng tôi phấn đấu chuyển tuyến còn 6%, đến năm 2019, phấn đấu giảm xuống dưới 5%.

Chúng tôi là mô hình thí điểm của Thông tư 39 của Bộ Y tế về gói dịch vụ y tế cơ bản gồm 76 dịch vụ y tế cơ bản và 241 loại thuốc, đảm bảo cung ứng những loại thuốc cơ bản nhất, thiết yếu nhất và thuốc tốt để đảm bảo công bằng giữa tuyến xã, huyện và tỉnh. Chất lượng dịch vụ tốt đi liền với số thẻ BHYT cũng tăng. Toàn huyện có khoảng 350.000 người nhưng đã có 200.000 thẻ BHYT, đây là lượng thẻ đăng ký tuyến xã rất lớn, có nhiều bệnh nhân đang đăng ký thẻ ở tuyến trên theo quý nhưng đang chuyển dần về TTYT huyện Sóc Sơn. Mô hình bác sĩ là mô hình rất tốt, là bước mở cho y tế cơ sở mà Bộ Y tế đã triển khai.

Thưa Phó Chủ nhiệm, thực tế có những trạm y tế xã bắt đầu đã “chuyển mình” bằng cách đầu tư khang trang sạch đẹp, có bác sĩ, tuy nhiên, làm sao để có thể mở rộng hơn mô hình này thưa ông?

Ông Bùi Sỹ Lợi: Đây là mô hình rất tốt, chúng ta có thực tiễn, người dân hài lòng, vậy tại sao chúng ta không phát triển mô hình này? Chúng ta phải có tổng kết đánh giá và coi đây là mô hình bài học kinh nghiệm để triển khai ra toàn quốc.

Tôi đã đi và tuyên truyền nhiều với các địa phương về việc học tập mô hình của Sóc Sơn. Cái hay của Sóc Sơn ở chỗ, người ta thì chuyển thẻ BHYT từ cơ sở lên tuyến trên, còn Sóc Sơn thì người dân lại chuyển từ tuyến trên về cơ sở. Bài học quan trọng nhất rút ra là giá trị được hưởng lợi từ BHYT của tuyến y tế cơ sở tương đồng với tuyến cao hơn.

Thứ hai là tinh thần trách nhiệm và quản lý bệnh tật ở tuyến y tế xã phường và của địa phương này rất tốt. Vì vậy, người dân định hình được khám chữa bệnh thế nào để không tốn kém từ quỹ BHYT và không tốn kém từ tiền túi của người dân. Tôi đề nghị với Thứ trưởng Phạm Lê Tuấn, chúng ta coi đây là điểm sáng để chúng ta phát triển ra toàn quốc.

Tôi mong BHXH vào cuộc cùng ngành y tế để cấp phát và phân bổ kinh phí cho khám chữa bệnh theo BHYT cho các cấp, y tế phải tiến đến có sự công bằng của mọi người dân. Người ta tham gia BHYT, cùng loại bệnh thì khám chữa bệnh ở xã, huyện, tỉnh hay Trung ương thì đều phải như nhau, chỉ khác nhau về chất lượng phục vụ ở tuyến cao hơn điều kiện tốt hơn thì tốt hơn một chút chứ giá trị của thuốc thì phải đảm bảo ngang bằng nhau. Đây cũng là bài học để chúng tôi điều chỉnh chính sách pháp luật cùng Chính phủ, Bộ Y tế và các cơ quan liên quan.

Bên cạnh những kết quả đó hẳn vẫn còn những khó khăn, mời bác sĩ Hải chia sẻ một số khó khăn của TTYT Sóc Sơn có thể khắc phục được, cũng như các danh mục khám chữa bệnh hiện nay ở tuyến y tế cơ sở có cần phải chỉnh sửa, thay đổi như thế nào không?

BS Phạm Quang Hải: Khi Bộ Y tế ban hành Thông tư 39, nếu các trạm y tế triển khai đủ 76 danh mục này thì đã cơ bản thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu tại tuyến xã và như vậy cũng đã đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân. Nếu trạm y tế xã sử dụng hết 241 loại thuốc trong danh mục này thì thực sự người dân sẽ được lợi và đương nhiên người dân sẽ không lên tuyến trên nữa.

Khó khăn vướng mắc thì chỉ có một số chính sách đầu tư bác sĩ gia đình hiện tại chưa được đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho tuyến y tế cơ sở.

Thứ hai, chưa có phần mềm quản lý chung, chưa liên thông kết quả khám chữa bệnh giữa tuyến trên với tuyến dưới. Chúng tôi nhập liệu phần mềm nhưng ở các bệnh viện lại không sử dụng phần mềm đó, nên khi bệnh nhân chuyển tuyến đi khám, chúng tôi phải đến tận nhà họ để lấy lại thông tin đó.

Thứ ba, là về quy chế chuyển tuyến, dù cơ chế đã mở rất nhiều nhưng chúng tôi vẫn chưa chuyển được lên tuyến Trung ương, đây thực sự là mong ước của chúng tôi và đó cũng là cách để giảm chi phí cho người dân. Nếu phải chuyển qua tuyến trung gian, là bệnh viện huyện, với bệnh nhân ung bướu thì người dân sẽ mất thêm một lần chi phí. Nếu bệnh viện huyện không đáp ứng được nhu cầu chữa trị, chúng tôi mong muốn được chuyển thẳng tuyến lên Trung ương.

Thứ tư, cơ chế chính sách cho chăm sóc sức khỏe tại nhà, tư vấn qua điện thoại chưa có cơ chế chi trả nên các tổ chăm sóc cho người dân tại nhà không thu được gì, chỉ là giúp không cho người dân. Nếu những khó khăn vướng mắc này được tháo gỡ thì đương nhiên người dân sẽ quay về với tuyến y tế cơ sở.

Thưa Thứ trưởng, với những khó khăn của tuyến y tế cơ sở thì với góc độ của Bộ Y tế có xử lý luôn được không ?

Ông Phạm Lê Tuấn: Tiếp câu chuyện về nhân rộng mô hình thì Bộ Y tế, trực tiếp là đồng chí Bộ trưởng rất quan tâm, Sóc Sơn là một cơ sở trên địa bàn Hà Nội, còn nhiều cơ sở tại các tỉnh thành khác kinh nghiệm cũng rất hay. Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Y tế đã chỉ đạo và triển khai trên toàn quốc trên cơ sở tích hợp kinh nghiệm của các nơi và làm tại 26 xã điểm mang tính chất toàn diện.

Về cơ sở vật chất, thời gian chưa qua chưa có hỗ trợ được nhiều, mới chỉ tập trung vào vấn đề nâng cao trình độ chuyên môn mà đã đem lại hiệu quả rồi. Nhưng bây giờ, để làm sao tạo niềm tin cho người dân thì phải chú trọng đến vấn đề toàn diện, từ cơ sở vật chất đến trang thiết bị và chuyên môn, đặc biệt nữa là ứng dụng công nghệ thông tin. Còn quyết định 2348 của Thủ tướng Chính phủ ký vào tháng 12/2017, Bộ Y tế đã yêu cầu các tỉnh phải triển khai, tập trung quản lý bệnh mãn tính. Với mô hình đào tạo linh hoạt, thuận lợi cho cán bộ, chúng ta phải bắt tay làm ngay chứ không chờ đợi hay chưa nhân rộng.

Về những khó khăn của TTYT Sóc Sơn, riêng việc sửa đổi Thông tư 16, Bộ Y tế đã thấy có sự chuyển động tốt nhưng vẫn còn những điểm hạn chế, Bộ Y tế đã sửa và sắp ban hành. Bên cạnh đó, thực hiện Nghị quyết 68 của Quốc hội, Bộ Y tế đã ban hành gói dịch vụ y tế cơ bản chính là Thông tư 39. Nhiều cơ sở có nói về vấn đề tài chính ví dụ như tư vấn, nhưng do quỹ bảo hiểm của chúng ta vẫn còn hạn chế nên hầu như là công sức của cán bộ y tế cứ làm thôi, chúng ta hưởng lương, trước mắt là như thế, chăm sóc tại nhà cũng tương tự như vậy.

Trong những năm vừa qua, Bộ Y tế kiên định triển khai theo chỉ đạo của Chính phủ là cần đổi mới cơ chế tài chính, đây là hướng đi rất đúng và đang đem lại hiệu quả. Các cơ sở cung ứng ký hợp đồng với BHXH, BHXH thay mặt người bệnh đóng tiền vào đấy, nguồn thu BHXH tăng lên, tỉ lệ tham gia BHXH tăng lên 87,1%, như vậy chúng ta đang tiến dân đến mục tiêu BHYT toàn dân.

Thu hút nhân tài cũng như đầu tư trang thiết bị y tế tại các TTYT huyện có gặp những khó khăn như thế nào, thưa ông?

Ông Phạm Lê Tuấn: Việc thu hút nhân tài, bác sĩ giỏi về trạm y tế đã được đặt ra trong nghiên cứu, xây dựng chính sách, chúng tôi nghĩ rằng cần cải cách chế độ lương, vì lương của nhân viên y tế hiện nay rất  thấp, bác sĩ học 6 năm ra trường cũng bằng các ngành khác trong ngành y tế học 4 năm. Thế nhưng câu chuyện này liên quan đến bậc lương nên rất khó.

Mặt khác, khi về trạm y tế, bác sĩ giỏi phải có chế độ gì để thu hút, còn giai đoạn hiện tại chủ yếu trên cơ sở là giao nhiệm vụ cho các bác sĩ giỏi luân phiên về trạm y tế.

Hiện nay, Bộ trưởng đang giao nhiệm vụ cho bệnh viện đầu ngành, bệnh viện hạt nhân giúp cho các bệnh viện vệ tinh tuyến tỉnh, huyện và giờ giao luôn nhiệm vụ về xã. Đây là việc phát huy tinh thần trách nhiệm, còn về phía các bệnh viện tuyến Trung ương thì có phần ngân sách dành cho đào tạo chỉ đạo tuyến, hơn nữa các bệnh viện Trung ương có sử dụng kỹ thuật cao, dịch vụ theo yêu cầu, những nguồn thu đó giờ phải san sẻ, trước mắt là như vậy. Còn trong tương lai thì phải thiết kế đồng bộ dần với tổng nguồn quỹ của chúng ta. Bộ cũng đã thấy vấn đề này nhưng sẽ phải dần từng bước.

Trước mắt, chúng ta cần vận dụng tốt các cơ chính sách hiện đang có. Ví dụ như chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, việc này ngân sách giao cho xã nhưng việc lập kế hoạch giữa ngành y tế với xã, với tỉnh vẫn chưa làm triệt để, nên có nguồn nhưng chúng ta không thực hiện...

Xin ông chia sẻ cơ chế  để “giữ chân” các bác sĩ ở Sóc Sơn hiện nay là gì?

BS Phạm Quang Hải: Nhân tố con người đóng vai trò thành bại của y tế cơ sở. Trong năm qua, chúng tôi đã kết nối được rất nhiều với các bệnh viện tuyến trên, ví dụ như Bệnh viện Lão khoa, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, được sự giúp đỡ rất tận tình của bộ môn y học gia đình và sự phối hợp rất tốt của bảo hiểm cũng như sự chỉ đạo của các cấp các ngành, nên khi bác sĩ của tuyến trên về giúp trung tâm thì các bác sĩ của trung tâm  được cầm tay chỉ việc – tức là thỏa mãn nhu cầu đào tạo, đó cũng là hình thức để giữ chân bác sĩ.

Thứ 2, về tài chính, đúng là làm nghề gì cũng phải đủ sống đã, bác sĩ cũng thế, tôi chỉ đặt ra mục tiêu là bác sĩ nuôi được chính mình và nuôi được con cái và cố gắng đạt được, đặc biệt trung tâm cố gắng đến năm 2020, chúng tôi phấn đấu ngoài lương, các bác sĩ có thu nhập khoảng 10 triệu nữa, hiện tại có nhiều bác sĩ của TTYT Sóc Sơn đã có thu nhập hơn 10 triệu/tháng.

Tiếp đó để giữ chân bác sĩ giỏi còn cần phải có cơ chế đào tạo, trung tâm cũng phải đào tạo liên tục, riêng về bác sĩ gia đình, trung tâm hiện đang có 6 bác sĩ chuyên khoa 1, hiện tại trung tâm đang đào tạo 12 bác sĩ chuyên khoa 1 về bác sĩ gia đình để điều động về tuyến xã. Ngoài ra còn có 32 bác sĩ khác có chứng chỉ về chuyên môn bác sĩ gia đình, vì vậy về cơ bản về chăm sóc sức khỏe ban đầu theo mô hình bác sĩ gia đình, các bác sĩ ở đây được cập nhật và đào tạo liên tục. Hiện nay, mỗi một năm trung tâm chi khoảng 2 tỷ cho quỹ phát triển để phục vụ việc đào tạo bác sĩ. Điều này cũng là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân các bác sĩ ở lại công tác tại trung tâm.

Thưa ông, trong quá trình chúng tôi thực hiện nội dung tọa đàm này, không ít các cơ sở y tế bày tỏ băn khoăn về Thông tư 15 mới đây của Bộ Y tế về thống nhất giá dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng. Thông tư này đã và đang gây nhiều khó khăn cho các cơ sở khám chữa bệnh trong việc tổ chức bàn khám, bác sĩ khám, nhu cầu sử dụng các xét nghiệm cần thiết cho người bệnh… đều bị hạn chế trong khi các cơ sở y tế đang trong lộ trình phải tự chủ tài chính, điều này khiến nhiều cơ sở y tế có thể dẫn tới việc thu không bù chi (đầu tư phát triển các kỹ thuật cao, đào tạo nhân lực, máy móc hiện đại…), dẫn tới việc khó triển khai các kỹ thuật cao khác, khó giữ chân được các bác sĩ ở tuyến cơ sở, gây thiệt thòi cho người bệnh. Thứ trưởng có nhận định như thế nào về vấn đề này?

Ông Phạm Lê Tuấn: Thông tư 15 mới ban hành, trên cơ sở sửa đổi thông tư 37. Thông tư 37 là thực hiện theo Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, thông tư này đã có bước tiến rất lớn về hạch toán chi phí và thực hiện lộ trình đổi mới cơ chế tài chính, trong đó có đổi mới giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng tính đủ, tuy nhiên mới chỉ tính các chi phí trực tiếp, các chi phí gián tiếp… chưa tính.

Tuy nhiên, Thông tư này sau một thời gian thực hiện có bộc lộ một số hạn chế cần phải điều chỉnh lại. Bởi vì nó liên quan đến định mức, thông qua các con số từ Bảo hiểm xã hội cũng cho thấy việc sử dụng các dịch vụ thay đổi rất khác so với trước đây. Vậy phải nhìn nhận nó như nào?

Rõ ràng, chúng tôi cũng thấy trong vấn đề định mức có những giáp ranh của hai dịch vụ kỹ thuật của 2 chuyên khoa khác nhau mà nó lại hơi khác nhau, mà tất cả có 28 chuyên khoa. Mà khi xây dựng định mức hay giá dịch vụ này, chúng tôi luôn luôn phải xin ý kiến của các chuyên khoa, của các cơ sở khám chữa bệnh từ tuyến trung ương tới tuyến xã, đồng thời có sự tham gia của bộ tài chính và BHXH. Tuy nhiên, theo tính toán có những định mức phải điều chỉnh lại, do đó Thông tư 15 có 88 giá dịch vụ sửa đổi, trong đó có 80 điều chỉnh xuống, 8 giá điều chỉnh lên – chủ yếu liên quan đến hồi sức tích cực…

Cũng có những ý kiến cho rằng, tần suất khám bệnh, tần suất ra chỉ định xét nghiệm gia tăng quá, điều này có thể ảnh hưởng tới chất lượng, do đó phải điều tiết bởi vì cơ chế tài chính tác động rất lớn tới hành vi của người thực hiện, để đảm nó, cũng phải bảo đảm định mức, trước đây định mức là 45 lượt khám/bàn khám – đây là định mức chung, có thể chưa tới hoặc có thể hơn. Ví dụ ở bệnh viện tuyến trên, có đủ nhân lực có thể làm được, còn ở tuyến dưới ít nhân lực không thể làm như thế được, vì vậy phải có điều tiết, phù hợp với thực tiễn. Hiện nay, một số cơ sở y tế ở tuyến dưới cũng đã điều chỉnh giảm xuống.

Hiện nay, giá dịch vụ y tế vẫn chưa tính đầy đủ, trong tương lai, Bộ sẽ tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện cơ chế chính sách về vấn đề này./.

Hiền Minh