(Chinhphu.vn) – Không để tình trạng “luật chờ nghị định” khi triển khai thực hiện Bộ luật Lao động; thay đổi tư duy về giảm nghèo; ưu tiên đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo 4 địa bàn trọng tâm… là những mục tiêu rất cụ thể mà Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) sẽ bắt tay ngày vào triển khai trong những ngày đầu năm Canh Tý.
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trao đổi về những công việc của Bộ LĐ-TB&XH trong năm 2020. Ảnh: VGP/Tiến Dũng

Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung khi trao đổi với Báo điện tử Chính phủ trong những ngày đầu xuân năm mới 2020.

Xin Bộ trưởng cho biết những dấu ấn nổi bật của ngành LĐ-TB&XH trong năm 2019?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Trong năm 2019, Bộ LĐTB&XH đã hoàn thành 3 nhiệm vụ đột phá gồm xây dựng thể chế; phát triển thị trường lao động đồng bộ và đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. 2 ưu tiên của Ngành là tiếp tục giải quyết những vấn đề liên quan đến người có công; đổi mới, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em và các nhiệm vụ khác bao gồm 14 lĩnh vực đều được triển khai một cách toàn diện, căn bản.

Toàn Ngành LĐ-TB&XH đã hoàn thành 3 chỉ tiêu Quốc hội giao với chất lượng được nâng lên rõ rệt: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị khoảng 3,12%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 24%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm 1,3% so với cuối năm 2018, riêng các huyện nghèo giảm gần 5%.

Đặc biệt, năm 2019 là năm thứ 4 liên tiếp, Bộ LĐ-TB&XH hoàn thành 100% các đề án, nhiệm vụ được giao trong chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bộ đã hoàn thành 196 nhiệm vụ (đạt 100%) do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ, không có nhiệm vụ quá hạn. Tạo việc làm cho trên 1,6 triệu lao động, đạt 103,2% kế hoạch; đưa 148 nghìn người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, về đích trước 1 năm trong kế hoạch 5 năm 2016 - 2020. 

Đáng lưu ý, chất lượng đào tạo nghề nghiệp của Việt Nam đã tăng 13 bậc; năm thứ hai liên tiếp tuyển sinh vượt kế hoạch. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện phát triển nhanh, vượt chỉ tiêu được giao tại Nghị quyết 28-NQ/TW trước 2 năm. Giảm nghèo tiếp tục đạt kết quả tích cực, giảm tỷ lệ hộ nghèo 1,35%, xuất hiện nhiều tấm gương vươn lên thoát nghèo, tự viết đơn xin thoát hộ nghèo. Qua hơn 3 năm thực hiện quy trình giải quyết hồ sơ tồn động theo quy trình rút gọn, 100% số hồ sơ rà soát đã được giải quyết chế độ hoặc giải đáp, trả lời, trong đó đã xác nhận trên 2.000 liệt sĩ, trên 2.600 thương binh. Theo báo cáo của các địa phương, có 8 địa phương đã giải quyết xong hồ sơ tồn đọng, 14 địa phương không có tồn đọng.

Có một thực tế là khi triển khai luật, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật còn chậm, gây khó khăn cho các cơ quan chức năng và người dân. Bộ luật Lao động vừa được Quốc hội thông qua sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 và tác động sâu rộng đến xã hội. Vậy, Bộ LĐTBXH sẽ triển khai thực hiện như thế nào để khắc phục tình trạng nói trên?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Phát biểu tại buổi tổng kết năm 2019 của Ngành, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã đánh giá rất cao về việc Bộ LĐTB&XH tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động với một số phiếu đồng thuận cao. Tôi cho rằng đây có thể được coi là một dấu ấn lịch sử. Trước hết, đây là một bộ luật rất lớn, có tác động sâu rộng đến hàng chục triệu người lao động và đến đời sống của vài chục triệu người dân.

Đây là lần đầu tiên chúng ta tập trung thể chế hóa tinh thần Nghị quyết 28 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, để nâng cao mức độ thụ hưởng an sinh, quyền an sinh của người dân theo Hiến pháp. Đây cũng là lần đầu tiên chúng ta tập trung thực hiện các cam kết quốc tế về vấn đề lao động việc làm theo các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc của tổ chức lao động quốc tế ILO, cũng như các cam kết về Hiệp định thương mại mà chúng ta ký kết.

Có thể nói rằng, Bộ luật Lao động thông qua là một quyết sách rất sáng suốt, có tầm nhìn dài, có tính chất chiến lược của Đảng, Nhà nước. Đáng chú ý là những vấn đề như mở rộng phạm vi đối tượng điều chỉnh, điều chỉnh tiền lương tối thiểu, chuyển mạnh sang thương lượng, phát triển các tổ chức khác bên cạnh tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp. Đặc biệt, vấn đề điều chỉnh nâng dần tuổi nghỉ hưu để thích ứng với các thách thức mới trong thời gian mới đã được đặt ra.

Tôi cho rằng, khi Bộ luật Lao ra đời và bắt đầu có hiệu lực sẽ làm thay đổi hai vấn đề rất quan trọng. Một là tiêu chuẩn lao động, hai là quan hệ lao động. Tôi tin rằng Bộ luật Lao động sẽ có một sức sống rất dài trong lịch sử xây dựng pháp luật lao động Việt Nam.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trao quà Tết Canh Tý cho các gia đình chính sách.

Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng Bộ luật, Bộ LĐ-TB&XH cũng đã chủ động xây dựng các dự thảo kèm theo. Cho đến nay, chúng tôi đã trình với Chính phủ và Chính phủ đã ban hành kế hoạch để triển khai đồng bộ các giải pháp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phân công công việc với từng ngành, từng cấp để làm sao khắc phục được tình trạng “luật chờ nghị định”. Ngày 1/1/2021, khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thì tất cả các nghị định, các thông tư, quyết định của Thủ tướng, bao gồm 14 Nghị định 1 Quyết định của Thủ tướng 8 Thông tư của Bộ trưởng sẽ đồng thời có hiệu lực. Chắc chắn chúng tôi sẽ thực hiện thành công mục tiêu này và hoàn thành tốt vai trò của mình.

Năm 2019 tiếp tục là năm lập kỷ lục về số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài với hơn 152.000 lao động. Xin Bộ trưởng cho biết những cơ hội và thách thức của hoạt động xuất khẩu lao động, cũng như những giải pháp quản lý, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực  trong năm 2019?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Tôi cho rằng, việc hợp tác về lao động giữa Việt Nam với các nước thời gian qua đã có bước chuyển biến căn bản. Trước đây, khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chúng ta chủ yếu lo về việc làm, thu nhập. Hiện tại, chúng ta chỉ không dừng lại ở đó mà còn chuẩn bị cho vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chăm lo bảo vệ quyền lợi người lao động, đào tạo ngoại ngữ, kiến thức trước khi đi làm việc ở nước ngoài. Chúng tôi đặt ra tỷ lệ 50/50, tức là 50 % người lao động đã có nhu cầu cao hơn chứ không đơn thuần là đi nước ngoài chỉ để có việc làm và thu nhập.

Vì vậy, tôi đã làm việc với Cục Quản lý lao động ngoài nước vào các ngành liên quan. Thời gian tới, thị trường xuất khẩu lao động sẽ hướng tới 4 địa bàn cơ bản, 4 địa bàn tập trung và tiềm năng. Bộ sẽ làm việc cụ thể với sứ quán và với các cơ quan, các nghiệp đoàn các nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao 3 vấn đề trọng tâm.

Thứ nhất, nhất thiết chúng ta chỉ lựa chọn những địa bàn tiềm năng, những địa bàn đảm bảo quyền lợi cho người lao động, ở đó người lao động được đào tạo về kỹ năng được nâng cao về chuyên môn được nâng cao về ngoại ngữ.

Thứ hai là ưu tiên lựa chọn những địa bàn mà chiều hướng phát triển tốt; đó là khu vực châu Âu, Nhật Bản và một số quốc gia như như Đức, Rumani và Séc, tiến tới là Hungari.

Thứ ba là phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước để tập trung cao cho người lao động để tập trung làm tốt 2 việc là đào tạo đầy đủ kỹ năng trước khi đi và làm sao để người lao động khi đi làm việc ở nước ngoài hợp pháp, có đầy đủ các chế độ chính sách. Cùng với đó là đảm bảo để sau 3 năm họ quay trở về thì họ phục vụ đất nước với một tâm thế tốt, kỹ năng lao động tốt, ý thức tổ chức kỷ luật được nâng cao và có  nguồn vốn nhất định để khởi nghiệp trong nước.

Với vai trò là Chủ tịch Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN năm 2020, Bộ LĐ-TB&XH đã có sự chuẩn bị như thế nào, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Trước hết, với tư cách là Chủ tịch của Cộng đồng Văn hóa - Xã hội của ASEAN năm 2020, chúng tôi sẽ bám sát vào 5 nội dung ưu tiên mà Ủy ban Quốc gia về ASEAN cũng như Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo. Theo đó, Bộ đã xây dựng một kế hoạch tổng thể.

Trước hết là hoạt động của chính Bộ LĐ-TB&XH. Thứ hai là phát huy vai trò của 13 bộ ngành trong khối Văn hóa Xã hội. Với tinh thần đó, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ xây dựng một kế hoạch hoạt động với 33 hoạt động cụ thể, trong đó có 17 hội nghị liên quan. Trong 17 hội nghị này có 2 hội nghị cấp cao về văn hóa xã hội chú trọng vào ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, lấy con người là mục tiêu là động lực để tạo ra kết cấu, kết nối giữa các nước ASEAN, nhất là về văn hóa và con người.

Thứ hai là tập trung vào một chủ đề là phát triển công tác xã hội để hướng tới là mọi người đều tham gia, mọi người đều hưởng ứng và sống trong một thế giới thích ứng và hội nhập theo tinh thần đó.

Công tác chăm lo cho người có công, người nghèo trong dịp Tết Canh Tý đã được triển khai như thế nào thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung Đảng, Chính phủ, Thủ tướng đã có chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương chủ động chăm lo Tết Canh Tý đối với tất cả người dân nói chung và đối với gia đình chính sách, người nghèo nói riêng. Chúng tôi đã trình với Chủ tịch nước và chuyển quà của Chủ tịch nước đến các địa phương. Trước Tết, qua kiểm tra thì tất cả các địa phương đã chuyển quà trực tiếp tới tay các gia đình người có công với cách mạng. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ cũng như Bộ LĐ-TB&XH đã có hướng dẫn các địa phương để chủ động thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với gia đình người có công với người nghèo.

Đối với những địa phương còn khó khăn về mặt lương thực thì Chính phủ cũng đã kịp thời cung ứng để đảm bảo không có gia đình nào, không có ai bị thiếu đói trong dịp Tết. Đối với công nhân xa nhà cũng có các chương trình Tết ấm sum vầy hay các chuyến xe hỗ trợ cho công nhân trẻ, những người khó khăn, những người đã lâu năm không được về quê ăn Tết có điều kiện để sum vầy với gia đình trong dịp Tết này.

Về công tác giảm nghèo, tôi cho rằng, cuộc chiến đấu với giảm nghèo không phải ngày một ngày hai, phải xác định là ngày càng khó hơn và chúng ta phải có tư duy mới trong giảm nghèo. Trước hết là xây dựng một chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2021 - 2025. Sau đó là thiết kế các chương trình đặc thù cho “vùng lõi nghèo”. Đó là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, phải gắn giảm nghèo bền vững với xây dựng nông thôn mới.

Các cơ quan triển khai cũng cần xác định rõ phương hướng, khu vực và những người có khả năng thoát nghèo thì chuyển mạnh sang hỗ trợ có điều kiện, nhưng không bao cấp và cũng không cho khôn, hướng đến tạo cơ chế tốt nhất để vùng đó thoát nghèo. Còn đối với những người không có khả năng thoát nghèo do hoàn cảnh, do sức khỏe, do tật nguyền… thì chúng ta phải phân loại cụ thể và chuyển sang đối tượng bảo trợ xã hội, song song với hỗ trợ bằng chính sách giảm nghèo.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Thu Cúc