(Chinhphu.vn) - Họp phiên toàn thể tại hội trường sáng 24/5, Quốc hội nghe báo cáo và thảo luận về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ ngày 12/11/2018 và tại hội trường ngày 15/11/2018; ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi), Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo và các cơ quan liên quan nghiên cứu tiếp thu ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) hiện được xây dựng với bố cục gồm 17 chương với 151 điều, quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước (NSNN).

Đối tượng áp dụng của Luật gồm: Người nộp thuế; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; cơ quan quản lý thuế; công chức quản lý thuế gồm công chức thuế, công chức hải quan; cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi), Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, có ý kiến đề nghị đổi tên gọi của Luật này là “Luật Quản lý hoạt động về thuế” để thể hiện được rõ ràng và chính xác hơn nội dung của Luật.

UBTVQH cho rằng tên gọi này đã có từ ngày ban hành Luật năm 2006, Quốc hội khoá XI. Đến nay, Luật Quản lý thuế đã triển khai được 13 năm và về cơ bản các nội dung về quản lý thuế mới là yếu tố quan trọng của Luật này. Vì vậy, việc thay đổi tên gọi như đề nghị của ĐBQH là không cần thiết.

Về tính cụ thể của dự thảo Luật, theo ông Nguyễn Đức Hải, có ý kiến cho rằng, so với Luật hiện hành thì dự thảo Luật sửa đổi còn nhiều quy định chưa cụ thể. Luật hiện hành có 20 điều giao Chính phủ quy định chi tiết, dự thảo lần này có khoảng 1/4 số điều của Luật (36/152 điều) và 13 khoản giao Chính phủ quy định chi tiết, trong khi đó có khoảng 15 điều trong Luật hiện hành không giao Chính phủ quy định chi tiết nay lại được bổ sung giao Chính phủ quy định chi tiết. Do vậy, đề nghị cần rà soát lại để cụ thể hóa tối đa trong Luật.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo rà soát, cụ thể hóa tối đa các nội dung quy định trong dự thảo Luật, quy định cụ thể ngay tại các điều, khoản cần được Chính phủ quy định chi tiết, không quy định chung tại Điều 152 như dự thảo trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6. Mặc dù dự thảo Luật đã quy định khá chi tiết ở nhiều nội dung, tuy nhiên cũng có một số nội dung là những vấn đề mang tính chất kỹ thuật, nếu quy định ngay trong Luật sẽ có khó khăn khi tổ chức thực hiện, do đó vẫn cần thiết phải giao Chính phủ quy định chi tiết.

Liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1), một số ý kiến đề nghị làm rõ các khoản thu khác thuộc NSNN không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu tại khoản 2 và xác định có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này không.

UBTVQH cho rằng việc quy định như dự thảo Luật sẽ đảm bảo bao quát nguồn thu của NSNN và tăng cường quy trình, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác quản lý các nguồn thu của NSNN.

Đồng thời, việc quy định giao Chính phủ căn cứ vào quy định của Luật này và pháp luật khác có liên quan để quy định việc quản lý thu đối với các khoản thu không do cơ quan quản lý thuế thu sẽ không làm xáo trộn các quy trình quản lý thuế trong Luật này và vẫn đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý nguồn thu NSNN tại các luật chuyên ngành.

Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, UBTVQH đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo sửa lại phạm vi điều chỉnh theo hướng bao quát tất cả các nguồn thu NSNN, không tách bạch nguồn thu do cơ quan quản lý thuế thu và nguồn thu không do cơ quan quản lý thuế thu và chuyển nội dung của Khoản 2 Điều 1 xuống Khoản 3 Điều 150 của dự thảo Luật cho phù hợp. Nội dung này được thể hiện tại Điều 1 và Khoản 3 Điều 150 của dự thảo Luật.

Về đối tượng áp dụng (Điều 2), có ý kiến đề nghị bổ sung vào Điểm c, Khoản 1 Điều 2 tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế… để đảm bảo đầy đủ "người nộp thuế" theo thực tế hiện nay.

UBTVQH cho rằng tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay cho người nộp thuế không phải là người nộp thuế, đối tượng này thuộc quy định tại Khoản 4 Điều 2 là “Cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan”. Vì vậy, đề nghị Quốc hội cho phép giữ như dự thảo Luật.

Liên quan đến nguyên tắc quản lý thuế (Điều 5), ông Nguyễn Đức Hải cho biết, có ý kiến đề nghị bổ sung việc “áp dụng nguyên tắc giao dịch độc lập” vào nguyên tắc ấn định thuế để đảm bảo tăng cường công tác quản lý và chống xói mòn thuế; bỏ nguyên tắc giao dịch điện tử vì đây là phương thức, hình thức quản lý, không phải là nguyên tắc quản lý thuế.

UBTVQH tiếp thu và giải trình như sau: Về quy định “Giao dịch liên kết” và “Giao dịch độc lập” đã tiếp thu trong phần giải thích từ ngữ tại Điều 3 và đây là các hình thức giao dịch, không phải là nguyên tắc quản lý thuế. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã đề nghị cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo rà soát hoàn chỉnh và bỏ nguyên tắc giao dịch điện tử trong quản lý thuế tại Điều 5 về nguyên tắc quản lý thuế.

Về những hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý thuế (Điều 6), nhiều ý kiến đề nghị tách bạch hành vi bị nghiêm cấm đối với đối tượng nộp thuế và hành vi cấm đối với cơ quan quản lý thuế; một số ý kiến đề nghị bổ sung hành vi sửa đổi các loại chứng từ hay các tài liệu liên quan đến lĩnh vực thuế nhằm trục lợi.

UBTVQH giải trình và tiếp thu như sau: Theo quy định tại Điều 6 dự thảo Luật, có một số hành vi bị nghiêm cấm được áp dụng chung cho cả hai nhóm cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế; việc tách bạch hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế sẽ bị phân tán và trùng lắp. Vì vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép giữ như dự thảo trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6. Riêng hành vi sửa đổi các loại chứng từ hay các tài liệu liên quan đến lĩnh vực thuế nhằm trục lợi đã thuộc nhóm hành vi cố tình kê khai thuế không đầy đủ, kịp thời, chính xác về số tiền thuế phải nộp tại khoản 4 Điều này.

Ông Nguyễn Đức Hải cũng giải trình, làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến nội dung khoanh nợ, xóa tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt.

Cụ thể về trường hợp được khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp (Điều 83), một số ý kiến đề nghị không khoanh nợ tiền thuế đối với các đối tượng có dấu hiệu trốn thuế hoặc vi phạm pháp luật trong kinh doanh; có ý kiến đề nghị bổ sung việc khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp đối với trường hợp người nộp thuế bị thiên tai bất khả kháng.

UBTVQH cho rằng, các trường hợp khoanh nợ tại dự thảo Luật hầu hết là các doanh nghiệp đã đóng cửa, không còn hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cá nhân đã chết, mất tích, dự thảo Luật không quy định khoanh nợ cho người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, vi phạm pháp luật. Mặt khác, nội dung “vi phạm pháp luật trong kinh doanh” là rất rộng, không chỉ trong lĩnh vực quản lý thuế (như hàng giả, hàng nhái, lừa đảo, bản hàng đa cấp...). Ngoài ra, người nộp thuế được miễn tiền chậm nộp trong trường hợp bất khả kháng (tại Khoản 8 Điều 59) và được gia hạn tiền thuế trong trường hợp bất khả kháng (Điểm a Khoản 1 Điều 62), do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho phép không bổ sung việc khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp đối với trường hợp người nộp thuế bị thiên tai bất khả kháng.

Về các trường hợp xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt (Điều 85), một số ý kiến đề nghị đề nghị cần có đánh giá kỹ hơn về tình hình nợ thuế, rà soát lại các trường hợp được xóa nợ thuế tại Khoản 2 và 3 Điều 85 để quy định chặt chẽ hơn. Cương quyết không xóa nợ cho các đối tượng cố tình vi phạm Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan để bảo đảm công bằng với các đối tượng khác. Một số ý kiến đề nghị bổ sung việc xóa nợ cho các trường hợp người nộp thuế gặp thiên tai, bất khả kháng và hợp tác xã khi bị phá sản; bỏ quy định xóa nợ cho người bị mất tích.

Tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra và Cơ quan soạn thảo tiếp thu theo hướng: Bỏ cụm từ “Chủ doanh nghiệp tư nhân” ra khỏi Khoản 2 Điều 85 quy định về các trường hợp được xoá nợ và Điểm b Khoản 1 Điều 87 quy định về thẩm quyền xóa nợ. Theo đó, trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân mà chết, mất năng lực hành vi dân sự thì được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc xoá nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo quy định chung tại Khoản 1 Điều 85 của Luật này.

Bỏ quy định xóa nợ đối với trường hợp cá nhân được pháp luật coi là đã mất tích, vì theo quy định tại Điều 71 của Bộ Luật dân sự thì khi tuyên bố là mất tích, sau 3 năm mới tuyên bố là đã chết nếu không trở về, khi đó sẽ thuộc trường hợp đã chết được quy định tại Khoản 2 Điều này. Đồng thời, bổ sung quy định về không còn tài sản phải bao gồm cả tài sản được thừa kế trong dự thảo Luật.

Ngoài ra, ông Nguyễn Đức Hải cũng cho biết, UBTVQH đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra và cơ quan soạn thảo nghiêm túc tiếp thu nhiều ý kiến xác đáng của các vị ĐBQH, chỉnh lý về từ ngữ, kỹ thuật văn bản, bảo đảm thống nhất nội dung giữa các điều, khoản, phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan và xin được thể hiện cụ thể trong dự thảo Luật.

Nguyễn Hoàng