(Chinhphu.vn) – Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 16/7.

Thủ tướng chỉ thị phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KTXH

Ngày 16/7, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành Chỉ thị số 19/CT-TTg về việc phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và Kế hoạch 5 năm (2021-2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phát động thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 và Kế hoạch 5 năm (2016-2020) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, trong những năm qua, các phong trào thi đua yêu nước đã được tổ chức thực hiện có hiệu quả, phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ, động viên các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực, tạo dấu ấn nổi bật trong năm 2020 và giai đoạn 2016-2020. Đặc biệt, đã bước đầu thực hiện thành công “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch COVID-19 hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống, sức khỏe nhân dân... Qua đó, tiếp tục tạo tiền đề quan trọng để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn tiếp theo.

Trong thời gian tới, bên cạnh những thuận lợi, nước ta còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp và tác động, ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu... Phát huy những kết quả đã đạt được, để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội hàng năm và Kế hoạch 5 năm (2021 - 2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ban, ngành, đoàn thể, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

1- Tiếp tục quán triệt, triển khai, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; quán triệt sâu sắc tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong nhận thức, tư tưởng và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, làm cho thi đua thực sự trở thành ý thức tự giác, trách nhiệm và việc làm thường xuyên của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi đơn vị, cá nhân; tạo thành cao trào hành động cách mạng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

2- Tổ chức các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả, bám sát nội dung định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chủ đề thi đua “Đoàn kết, sáng tạo, thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” được phát động tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Thực hiện đổi mới nội dung, phương thức tổ chức các phong trào thi đua, với hình thức phong phú, đa dạng, nội dung cụ thể, thiết thực, tập trung cụ thể hóa và thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược, nhằm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phấn đấu đến năm 2025, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2021 - 2025) đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

3- Các bộ, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của địa phương, đơn vị, phát động các phong trào thi đua phù hợp với từng lĩnh vực của đời sống xã hội, các vùng miền, tầng lớp nhân dân, gắn với đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; thi đua xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội...; thi đua phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; thi đua thực hiện chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện để xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số; thi đua xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước; nâng cao chất lượng phong trào thi đua trong lĩnh vực xây dựng Đảng, Nhà nước và toàn hệ thống chính trị; tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ Nhân dân, lấy Nhân dân và doanh nghiệp làm trung tâm; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đề cao trách nhiệm nêu gương, tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, gắn với đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Phát huy phong trào thi đua yêu nước của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, nâng cao vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động nguồn lực, sức sáng tạo của Nhân dân và đoàn viên, hội viên, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của bộ, ngành, địa phương và cả nước.

4- Cùng với việc tổ chức các phong trào thi đua, cần thường xuyên quan tâm phát hiện, bồi dưỡng các nhân tố, điển hình mới, tuyên truyền, nhân rộng điển hình tiên tiến, nêu gương người tốt, việc tốt, nhằm thúc đẩy, cổ vũ các phong trào thi đua. Các bộ, ban, ngành, đoàn thể, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng, xây dựng các mô hình mới, nhân tố mới trong từng năm, cả giai đoạn, được thực hiện từ cơ sở và thực hiện đồng bộ tốt cả 4 khâu: Phát hiện - bồi dưỡng - tổng kết - nhân rộng điển hình tiên tiến. Các cơ quan thông tin truyền thông tích cực đổi mới, đa dạng hóa phương thức, để đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng; mở các chuyên trang, chuyên mục và tăng thời lượng để giới thiệu, tuyên truyền các gương điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực.

5- Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác khen thưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ và thực chất, bảo đảm khen thưởng chính xác, kịp thời, công khai, minh bạch, có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương. Chú trọng khen thưởng thông qua phát hiện các điển hình, nhân tố mới, khen thưởng người lao động trực tiếp, vùng sâu, vùng xa, khen thưởng đột xuất, khen thưởng theo chuyên đề. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phát hiện, biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ. Khen thưởng phải phù hợp với thành tích và kết quả đạt được. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thi đua, khen thưởng.

6- Tiếp tục làm tốt công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng. Tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng phù hợp với tình hình thực tiễn, khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả các phong trào thi đua trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm trong công tác thi đua, khen thưởng. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của cụm, khối thi đua. Bố trí, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức làm công tác thi đua, khen thưởng có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức, kinh nghiệm, gắn bó với quần chúng và phong trào thi đua. Đồng thời, tiếp tục củng cố tổ chức, bộ máy ổn định, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đây là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng công tác tham mưu và kết quả triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua và công tác khen thưởng trong phạm vi cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

7- Hiện nay, trong khi tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp, với nhiều chủng mới nguy hiểm, lây lan rất nhanh, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm tập trung toàn bộ tâm trí và nguồn lực, đồng sức, đồng lòng đẩy lùi đại địch. Các bộ, ngành, địa phương và nhân dân cả nước tập trung đẩy mạnh các phong trào thi đua, huy động sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị, vận động các cấp, các ngành và nhân dân tích cực tham gia phòng, chống dịch bệnh, với tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ’, đoàn kết, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua khó khăn; kịp thời phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm.

Tiếp tục thực hiện quyết liệt, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các giải pháp trong phòng chống đại dịch COVID-19, kiểm soát tốt nguy cơ lây bệnh từ bên ngoài, dập dịch triệt để bên trong, ứng dụng công nghệ thông tin để truy vết thần tốc, khoanh vùng nhanh, xét nghiệm hợp lý, điều trị hiệu quả, giãn cách xã hội ở phạm vi và thời hạn cần thiết, chặn đứng nguồn lây, bảo đảm phương châm “5K + vaccine” và tích cực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ bắt buộc trong phòng, chống dịch; thần tốc xét nghiệm và tiêm vaccine cho nhân dân, nhằm tập trung thực hiện “mục tiêu kép”, vừa phòng chống dịch COVID-19 hiệu quả, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, vừa tận dụng tốt các cơ hội, nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Các cấp, các ngành kịp thời khen thưởng, động viên các tập thể, cá nhân làm tốt; phê bình, kiểm điểm các trường hợp lơ là, chủ quan, chưa làm tròn trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

8- Các bộ, ban, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện Chỉ thị này. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông tăng cường các hoạt động thông tin, tuyên truyền sâu rộng nội dung của Chỉ thị, tạo sự đồng thuận xã hội, thống nhất cao trong tổ chức triển khai các phong trào thi đua, gắn với tích cực tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến.

Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương và ở các cấp, các ngành căn cứ chức năng, nhiệm vụ, vận động đoàn viên, hội viên tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm và kế hoạch 5 năm (2021 - 2025).

Bộ Nội vụ (Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương) chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Chỉ thị này.

Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND 9 tỉnh, thành phố

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành các quyết định phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND 9 tỉnh, thành phố gồm: Hậu Giang, Tiền Giang, An Giang, Đắk Lắk, Bình Phước, Trà Vinh, Bắc Kạn, Cần Thơ, Bạc Liêu.

Cụ thể, tại Quyết định 1172/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Đồng Văn Thanh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1171/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Trương Cảnh Tuyên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Văn Hòa, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2016-2021; bà Hồ Thu Ánh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1174/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1173/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Trần Văn Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Văn Mười, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2016-2021; ông Phạm Văn Trọng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1176/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1175/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Lê Văn Phước, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2016-2021; ông Trần Anh Thư, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1188/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Phạm Ngọc Nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1186/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Nguyễn Tuấn Hà, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016-2021; bà H`Yim Kđoh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016-2021; ông Võ Văn Cảnh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016-2021; ông Y Giang Gry Niê Knơng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1191/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2021-2026 đối với bà Trần Tuệ Hiền, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1190/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Bà Trần Tuyết Minh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2016-2021; ông Trần Văn Mi, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2016-2021; ông Huỳnh Anh Minh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1193/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Lê Văn Hẳn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1192/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: ông Lê Thanh Bình, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Trung Hoàng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Quỳnh Thiện, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1216/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Nguyễn Long Hải, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1215/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Đinh Quang Tuyên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2016-2021; ông Phạm Duy Hưng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2016-2021; bà Đỗ Thị Minh Hoa, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1218/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021-2026 đối với ông Trần Việt Trường, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1217/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Dương Tấn Hiển, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Ngọc Hè, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Thực Hiện, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; ông Nguyễn Văn Hồng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021.

Tại Quyết định 1225/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2021-2026 đối với: Ông Lê Tấn Cận, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Bạc Liêu; ông Phan Thanh Duy, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2016-2021; bà Cao Xuân Thu Vân, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2016-2021.

Quy định mới về sắp xếp lại, xử lý tài sản công

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 67/2021/NĐ-CP ngày 15/7/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công.

Cụ thể, Nghị định 67/2021/NĐ-CP sửa đổi về phạm vi áp dụng. Theo đó, nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 167/2017/NĐ-CP quản lý, sử dụng không thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý theo quy định gồm:

- Nhà, đất thuê, thuê lại, nhận góp vốn, nhận giữ hộ, mượn của các tổ chức, cá nhân khác và nhà, đất khác không phải của cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp;

- Đất (bao gồm cả tài sản gắn liền với đất (nếu có) thuộc trách nhiệm quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Đất, tài sản gắn liền với đất do cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị  định 167/2017/NĐ-CP quản lý, sử dụng đã có quyết định thu hồi theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Đất, tài sản gắn liền với đất thuộc đất đã có Quyết định thu hồi và giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Đất, tài sản gắn liền với đất thuộc: đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên; đất rừng sản xuất, đất nông, lâm nghiệp;

- Nhà, đất là sản phẩm hàng hóa của dự án đầu tư kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật, trừ phần nhà, đất tại dự án đã được xác định và hạch toán là tài sản cố định của doanh nghiệp;

- Đất (bao gồm cả đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn các công trình), nhà, công trình gắn liền với đất là tài sản kết cấu hạ tầng: giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không, thủy lợi, đê điều, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý chất thải, hệ thống dẫn điện (bao gồm cả các trạm điện), hệ thống dẫn xăng dầu, hệ thống dẫn khí, thông tin liên lạc, chợ;

- Đất, nhà, công trình gắn liền với đất thuộc khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 167/2017/NĐ-CP);

- Đất, công trình gắn liền với đất thuộc: đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; đất có mặt nước nội địa; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, công viên, khu vui chơi, giải trí công cộng và đất công trình công cộng khác do Nhà nước quản lý;

- Nhà, đất của doanh nghiệp đang trong giai đoạn thực hiện thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp;

- Nhà, đất được hình thành bằng nguồn quỹ phúc lợi của doanh nghiệp;

- Đất, nhà thuộc: quỹ nhà ở xã hội, nhà tái định cư; quỹ đất tiếp nhận từ dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị bàn giao lại cho Nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Nhà, đất của các ngân hàng thương mại mà các ngân hàng thương mại này được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mua lại bắt buộc hoặc chuyển giao bắt buộc theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và quyết định của cấp có thẩm quyền.

Nghị định số 67/2021/NĐ–CP cũng sửa đổi, bổ sung một số đối tượng doanh nghiệp áp dụng thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất.

Theo quy định mới, doanh nghiệp thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất bao gồm:

a- Doanh nghiệp cấp I là Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước, công ty độc lập do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ngân hàng Chính sách xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ; công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ngân hàng Chính sách xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có vốn góp chiếm trên 50% vốn điều lệ;

b- Doanh nghiệp cấp II là doanh nghiệp có vốn góp của doanh nghiệp cấp I quy định tại (a) mà: tỷ lệ % vốn nhà nước tại doanh nghiệp cấp I nhân với (x) tỷ lệ % vốn góp của doanh nghiệp cấp I vào doanh nghiệp cấp II chiếm trên 50% vốn điều lệ;

c- Doanh nghiệp cấp III là doanh nghiệp có vốn góp của doanh nghiệp cấp II quy định tại (b) mà: tỷ lệ % vốn nhà nước tại doanh nghiệp cấp I nhân với (x) tỷ lệ % vốn góp của doanh nghiệp cấp I vào doanh nghiệp cấp II nhân với (x) tỷ lệ % vốn góp của doanh nghiệp cấp II vào doanh nghiệp cấp III chiếm trên 50% vốn điều lệ;

Các doanh nghiệp không thuộc quy định ở trên, việc quản lý, sử dụng nhà, đất thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

Ngoài ra, Nghị định số 67/2021/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 11 Nghị định 167/2017/NĐ-CP quy định về bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo quy định mới, Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt phương án và ban hành quyết định bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hình thức đấu giá đối với nhà, đất có nguyên giá tài sản trên đất và giá trị quyền sử dụng đất từ 500 tỷ đồng trở lên tính trên một cơ sở nhà, đất thuộc trung ương quản lý theo đề nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và ý kiến của Bộ Tài chính, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà, đất bán.

Nghị định số 67/2021/NĐ-CP bổ sung quy định: Nguyên giá tài sản trên đất và giá trị quyền sử dụng đất để xác định thẩm quyền quyết định bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác định tại thời điểm cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp lập báo cáo kê khai, đề xuất phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất; cụ thể như sau:

- Nguyên giá tài sản trên đất: Theo nguyên giá trên sổ kế toán; trường hợp nguyên giá tài sản chưa theo dõi trên sổ kế toán thì căn cứ vào hồ sơ chứng từ mua sắm (hoặc đầu tư) để xác định nguyên giá tài sản theo chế độ quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Đối với giá trị quyền sử dụng đất:

Đối với đất do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng: Xác định theo quy định tại Điều 101 và Điều 102 Nghị định sổ 151/2017/NĐ-CP.

Đối với đất do doanh nghiệp quản lý, sử dụng: Giá trị quyền sử dụng đất được xác định bằng (=) diện tích đất nhân (x) với giá đất theo mục đích sử dụng đất của loại đất đang sử dụng tại Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại thời điểm lập báo cáo kê khai, đề xuất phương án bán.

Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất trong nguyên giá tài sản quy định trên chỉ sử dụng để xác định thẩm quyền quyết định bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định, không sử dụng để xác định giá khởi điểm để bán đấu giá, xác định giá bán để bán chỉ định.

Trường hợp bán một phần diện tích nhà, đất của một cơ sở nhà, đất thì nguyên giá để xác định thẩm quyền quyết định bán được xác định tương ứng với phần diện tích nhà, đất đề nghị bán.

Triển khai Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp

Triển khai Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở cụ thể hóa nội dung, hoạt động chuyên môn cần triển khai để phân loại, chuẩn hóa năng lực, khối lượng học tập tối thiểu và văn bằng, chứng chỉ phù hợp đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp.

Đó là nội dung của Kế hoạch triển khai Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2025 đã được Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam ký ban hành tại Quyết định 1232/QĐ-TTg ngày 15/7/2021.

Yêu cầu của Kế hoạch là xác định nội dung, nhiệm vụ cụ thể để các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (các bộ, ngành, địa phương) tập trung chỉ  đạo, tổ chức thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp một cách đồng bộ và hiệu quả, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục và các quy định pháp luật.

Một trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Kế hoạch là xây dựng và ban hành các văn bản, tài liệu để triển khai thực hiện Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp. 

Cụ thể, từ quý II/2021 đến quý IV/2022, xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy định, tài liệu hướng dẫn về chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu theo tín chỉ cho các trình độ giáo dục nghề nghiệp.

Từ quý III/2021 đến quý II/2022: Xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản chỉ đạo, tài liệu hướng dẫn các cơ sở giáo dục nghề nghiệp rà soát, điều chỉnh cấu trúc, nội dung, phương pháp thực hiện chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra và quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp bảo đảm phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động.

Từ quý I/2022 đến quý VI/2022: Nghiên cứu hoàn thiện các quy định về bảo đảm chất lượng các trình độ giáo dục nghề nghiệp, bao gồm cả chất lượng đào tạo từ xa, trực tuyến và chỉnh sửa, bổ sung các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp, từ quý IV/2021 đến quý IV/2023; nghiên cứu xây dựng quan hệ giữa tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia với các trình độ đào tạo theo khung trình độ quốc gia.

Từ quý III/2021 đến quý III/2025: Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu khác là triển khai, cập nhật, phát triển chương trình đào tạo nghề nghiệp theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam, trong đó, tiếp tục hướng dẫn, xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành nghề của các trình độ giáo dục nghề nghiệp bảo đảm theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và các hướng dẫn.

Từ quý I/2022 đến quý IV/2023: Hướng dẫn điều chỉnh cấu trúc, nội dung, phương pháp thực hiện chương trình đào tạo, biên soạn chi tiết các mô đun, môn học, học phần, giáo trình, kế hoạch đào tạo trên cơ sở chương trình đào tạo đã được cập nhật, phát triển bảo đảm theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và theo các hướng dẫn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Từ quý IV/2021 đến quý IV/2025: Thực hiện các nội dung, hoạt động trong tiến trình tham chiếu Khung trình độ quốc gia Việt Nam (đối với các trình độ giáo dục nghề nghiệp) với Khung tham chiếu trình độ ASEAN và các khung trình độ quốc gia khác, trong đó, thực hiện việc công nhận lẫn nhau về trình độ và kỹ năng giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN.

Thủ tướng phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di dản văn hóa Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định 1230/QĐ-TTg ngày 15/7/2021 phê duyệt Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam, giai đoạn 2021-2025.

Mục tiêu của Chương trình là bảo tồn và phát huy giá trị các di sản, các công trình có giá trị tiêu biểu quốc gia, có ý nghĩa chính trị, văn hóa, lịch sử, truyền thống đặc sắc, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam vì sự phát triển bền vững đất nước.

Nhiệm vụ chủ yếu của Chương trình là tu bổ, tôn tạo tổng thể các di tích lịch sử-văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, khảo cổ được UNESCO ghi danh, cấp quốc gia đặc biệt và các di tích quốc gia có giá trị tiêu biểu. Cụ thể, đầu tư tu bổ, tôn tạo tổng thể ít nhất 3 di sản đã được UNECO ghi danh và 13 di tích quốc gia đặc biệt; đầu tư tu bổ ít nhất 11 di tích cách mạng-kháng chiến quan trọng, tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và 6 di tích khảo cổ tiêu biểu; đầu tư tu bổ, tôn tạo ít nhất 20 di tích lịch sử-văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh, khảo cổ cấp quốc gia có giá trị đang bị xuống cấp.

Thực hiện các dự án chỉnh trang nội dung trưng bày, nâng cấp trang thiết bị và hệ thống trưng bày bảo tàng bao gồm: Duy tu, bảo trì hệ thống trưng bày và kho lưu giữ hiện vật của các bảo tàng công lập; trang bị, thay thế trang thiết bị, nâng cấp trưng bày các bảo tàng cấp quốc gia, bảo tàng tại các vùng kinh tế trọng điểm, các địa bàn có sức thu hút khách du lịch…

Xây dựng và triển khai các chương trình, dự án, nhiệm vụ, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu có giá trị tiêu biểu; triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong di sản văn hóa; nâng cao chất lượng nguồn lực di sản văn hóa.

Giải pháp thực hiện là phổ biến, nâng cao nhận thức, pháp luật về di sản văn hóa; đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực thực hiện Chương trình; quản lý, giám sát sử dụng nguồn lực… Trong đó, sẽ xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp với các cơ quan báo chí, các đài truyền hình, đài phát thanh đẩy mạnh tuyên truyền, xây dựng chuyên mục về Chương trình này trên trang thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như của các cơ quan chuyên môn về văn hóa ở địa phương kết quả thực hiện Chương trình, đồng thời huy động sự đóng góp, hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nước cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm soát việc thực hiện các mục tiêu và tiến độ triển khai các nhiệm vụ; huy động sự tham gia, đóng góp, giám sát của xã hội trong việc thực hiện mục tiêu của Chương trình; ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực, thất thoát, lãng phí nguồn vốn được cấp…

Thành lập Ban Quản lý các KKT, KCN tỉnh Quảng Nam

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1229/QĐ-TTg thành lập Ban Quản lý các Khu kinh tế (KKT) và Khu công nghiệp (KCN) tỉnh Quảng Nam trên cơ sở tổ chức lại Ban Quản lý KKT mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam.

Theo quyết định, Ban Quản lý các KKT và KCN tỉnh Quảng Nam (Ban Quản lý) là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với các KKT và các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất, kinh doanh cho nhà đầu tư trong các KKT, các KCN theo quy định của pháp luật.

Ban Quản lý có tư cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính Nhà nước, kinh phí hoạt động sự nghiệp của Ban Quản lý và vốn đầu tư phát triển do ngân sách Nhà nước cấp theo kế hoạch và nguồn kinh phí khác theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ban Quản lý thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 61, Điều 63 và Điều 64 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý KCN và KKT; Điều 10, Điều 11, Điều 13 Quy chế điều hành hoạt động tại các cửa khẩu biên giới đất liền ban hành kèm theo Quyết định số 45/2013/QĐ-TTg ngày 25/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, Ban Quản lý còn thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủy quyền của cấp có thẩm quyền và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Trưởng Ban Quản lý trình UBND tỉnh Quảng Nam quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý theo quy định pháp luật.

Thủ tướng phân công Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định 1231/QĐ-TTg ngày 15/7/2021 phân công Chủ tịch, Phó Chủ tịch Thường trực, Phó Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành đảm nhận chức danh Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam.

Phân công Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đảm nhận chức danh Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam.

Phân công đảm nhận chức danh Phó Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam đối với: Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang; Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thị Bích Ngọc; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Hoàng Hiệp.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn chia sẻ, lắng nghe và hỗ trợ tối đa TPHCM

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn chia sẻ, lắng nghe và hỗ trợ tối đa Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống dịch. Thành phố Hồ Chí Minh sớm kiểm soát được dịch bệnh để phục hồi và phát triển KT-XH với quyết tâm cao nhất.

Trong Thông báo số 181a/TB-VPCP Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ nhận định: Việc triển khai thực hiện giãn cách xã hội toàn Thành phố từ ngày 9/7/2021 theo tinh thần Chỉ thị số 16/CT-TTg là một quyết định đúng đắn, cần thiết và bước đầu phát huy hiệu quả, nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và sự ủng hộ, tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp.

Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết liệt triển khai thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã có các buổi làm việc trực tiếp, trực tuyến với lãnh đạo Thành phố và thường xuyên chỉ đạo về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn Thành phố. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt thường xuyên quan tâm, chỉ đạo và chia sẻ, động viên, đánh giá cao sự nỗ lực, cố gắng và mong muốn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố sớm kiểm soát, đẩy lùi dịch bệnh, vì sự an toàn, sức khỏe của nhân dân, vì sự phát triển của Thành phố với vai trò, vị trí là trung tâm kinh tế lớn nhất, là đầu tàu kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, của Nam Bộ và của cả nước.

Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao sự nỗ lực rất lớn và quyết tâm cao của Thành phố Hồ Chí Minh trong thực hiện “mục tiêu kép”, vừa quyết liệt phòng, chống dịch, vừa phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 5,46%; thu ngân sách đạt 55,7% dự toán, tăng 20,7% so với cùng kỳ; tổng vốn đầu tư phát triển tăng 6%; doanh nghiệp thành lập mới tăng 3,8% với số vốn đăng ký tăng 39,2%; xuất khẩu tăng 5,1%. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân được bảo đảm. Việc chuẩn bị kết thúc năm học và tổ chức thi tốt nghiệp trung học phổ thông được thực hiện tốt. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quốc phòng an ninh được tăng cường; các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh phù hợp với tình hình dịch bệnh; góp phần quan trọng vào thành tựu chung của cả nước và củng cố, nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của nước ta.

Việc kiểm soát được dịch bệnh trong 6 tháng đầu năm để phát triển KTXH và đạt được những kết quả quan trọng nêu trên của Thành phố có nhiều nguyên nhân; trong đó chủ yếu là nhờ: (1) Sự chấp hành nghiêm túc lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mà thường xuyên là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện “mục tiêu kép”; (2) Sự nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các cấp, các ngành và sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn; (3) Tranh thủ được sự ủng hộ, sự đồng hành, chia sẻ của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn Thành phố, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, trong đó có sự chung tay, chia sẻ, hỗ trợ thiết thực của cộng đồng doanh nghiệp; (4) Sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của Thành phố với các bộ, cơ quan Trung ương, các địa phương khác trong cả nước; trong đó các địa phương, nhất là các địa phương trong vùng sẵn sàng chia sẻ, đón nhận người từ Thành phố trở về và thực hiện nghiêm các quy định phòng, chống dịch của Bộ Y tế; qua đó khẳng định sự đoàn kết, đồng thuận, thống nhất cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, nhất là trong giai đoạn khó khăn, thử thách.

Thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thành phố tiếp tục ưu tiên thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 trong đó có việc thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg, phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, các bộ, ngành, địa phương trong vùng thường xuyên đánh giá thực tiễn, chỉ rõ những hạn chế, bất cập, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và bài học kinh nghiệm để tập trung khắc phục. Tinh thần chỉ đạo là coi sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trước hết, trên hết; không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhu yếu phẩm cần thiết khi thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg; chăm sóc, cứu chữa tận tình cho người bị nhiễm bệnh, hạn chế tối đa các trường hợp tử vong; thực hiện sớm chiến dịch tiêm vaccine kịp thời, khoa học, an toàn, hiệu quả, bình đẳng theo thứ tự ưu tiên phù hợp; trên cơ sở đó, Thành phố căn cứ vào tình hình cụ thể và quy định của Trung ương để xác định đối tượng cần ưu tiên; tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, bị lợi dụng, xuyên tạc, gây nghi ngờ trong Nhân dân và mất ổn định xã hội, tránh gây xáo trộn nhiều đến đời sống người dân.

Đề nghị Thành phố tập trung toàn lực ưu tiên cho công tác phòng, chống, kiềm chế, ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh, sớm kiểm soát được dịch bệnh để phục hồi và phát triển KTXH với quyết tâm cao nhất, triển khai thực hiện hiệu quả nhất để sớm đưa cuộc sống của Nhân dân và các hoạt động KTXH trở lại bình thường, đáp ứng sự tin tưởng và mong chờ của cả nước. Tinh thần là sản xuất kinh doanh phải bảo đảm an toàn phòng, chống dịch bệnh theo quy định và phòng, chống dịch bệnh để bảo đảm thúc đẩy và an toàn cho sản xuất kinh doanh; trong trường hợp không đảm bảo an toàn phòng, chống dịch thì phải tạm dừng hoạt động sản xuất kinh doanh, tập trung cho phòng, chống dịch.

Các ý kiến phát biểu đều khẳng định Thành phố  đã đi đúng hướng và phải quyết tâm, thống nhất trong nhận thức và hành động để từ đó tiếp tục làm rõ các nguyên nhân của hạn chế, bất cập để khắc phục trong phòng, chống dịch COVID-19; càng khó khăn thì càng phải giữ đúng nguyên tắc, phát huy dân chủ, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến của nhau; huy động sức mạnh tập thể, cách làm đổi mới sáng tạo, đặc biệt quan tâm các góp ý, hiến kế từ cơ sở, trong Nhân dân; bình tĩnh xem xét và đưa ra quyết định phù hợp, hiệu quả trên tinh thần bảo đảm tối đa lợi ích của Nhân dân, của quốc gia, dân tộc là trên hết. Do diễn biến dịch rất nhanh, hầu hết chưa có tiền lệ, nên trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cần xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, có kế thừa, đổi mới, ổn định và phát triển; vận dụng linh hoạt các giải pháp trên cơ sở phân tích, đánh giá kỹ tác động, ảnh hưởng theo tinh thần không chủ quan, nóng vội, nhưng cũng không cầu toàn. Tích cực vận động người dân, doanh nghiệp cùng tham gia và luôn chia sẻ, lắng nghe ý kiến của nhân dân trong quá trình thực hiện để điều chỉnh phù hợp. Coi khó khăn, thách thức là động cơ để phấn đấu trưởng thành của cán bộ các cấp, là cơ hội khẳng định mình và vươn lên, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 tốt hơn. Tranh thủ sự giúp đỡ tối đa của các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; tổ chức tiếp nhận, sử dụng một cách khoa học, hiệu quả, tránh lãng phí và tình trạng chồng chéo, thừa, thiếu cục bộ.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh rà soát, đánh giá toàn diện các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống dịch vừa qua để tiếp tục kiên trì các giải pháp đúng hướng, hiệu quả; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, vận động nhân dân thực hiện nghiêm túc, đúng quy định của Chỉ thị số 16/CT-TTg, các chỉ đạo, kết luận của Thủ tướng Chính phủ và có sự phân công, phân cấp, xác định rõ trách nhiệm cụ thể của cơ quan, đơn vị, người lãnh đạo trong tổ chức thực hiện. Tập trung cứu chữa tích cực đối với những bệnh nhân nặng và kiên quyết không để lây nhiễm trong bệnh viện, trong khu cách ly; đồng thời lưu ý kiểm soát chặt chẽ sau cách ly, không để lây lan dịch bệnh ra cộng đồng. Tăng cường trang thiết bị, thuốc men cần thiết cho các ca bệnh nặng, có bệnh nền để giảm thiểu các ca tử vong.

Tập trung tổ chức thực hiện tốt chiến dịch tiêm vaccine trên địa bàn Thành phố, bảo đảm kịp thời, khoa học, an toàn, hiệu quả; chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để tiêm trên phạm vi rộng, bảo đảm đối tượng ưu tiên; kịp thời rút kinh nghiệm để làm tốt hơn, phấn đấu từ nay đến cuối tháng 7 tiêm khoảng 2 triệu liều vaccine trên địa bàn Thành phố.

Công tác xét nghiệm, sàng lọc các ca nhiễm cần được đẩy nhanh hơn và bảo đảm an toàn, hiệu quả; vừa làm vừa rút kinh nghiệm để làm tốt hơn.

Khẩn trương xác định ổ dịch mới để khoanh vùng, cách ly, dập dịch, thực hiện giãn cách và cập nhật bản đồ COVID-19; việc Thành phố đã phát động phong trào thi đua xanh hóa bản đồ COVID-19, đề nghị Thành phố vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng kịp thời, triển khai nhân rộng đến cơ sở những cách làm hay, mô hình tốt, hiệu quả.

Tổ chức động viên, khen thưởng kịp thời cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 và sản xuất kinh doanh có hiệu quả; đồng thời phê bình, kiểm điểm, rút kinh nghiệm những trường hợp làm chưa tốt; xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm quy định trong phòng, chống dịch.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Thành phố chủ động chuẩn bị phương án đối phó với tình hình dịch bệnh ở mức cao hơn, thường xuyên phân tích, đánh giá, cập nhật tình hình, không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác và bình tĩnh, kiên trì thực hiện, không bi quan, dao động, mất bản lĩnh.

Thực hiện tốt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ để hỗ trợ ngay cho người lao động, người có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh, trong đó có những người lao động tự do, cơ nhỡ, mất việc làm. Chỉ đạo hệ thống chính trị cơ sở nắm thật chắc các đối tượng cần hỗ trợ, mạnh dạn cho triển khai thực hiện hỗ trợ theo tinh thần của Nghị quyết, không được bỏ sót, không để bất cứ người dân nào thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các nhu yếu phẩm cần thiết. Thành lập các trung tâm cứu trợ, đường dây nóng ở những nơi cần thiết, phù hợp và các hình thức tương tác bằng công nghệ, qua mạng internet để tiếp nhận và xử lý hiệu quả những khó khăn, vướng mắc, cứu trợ kịp thời, hiệu quả cho người dân. Nghiên cứu, tổ chức phù hợp các hình thức bán hàng, xe hàng, cửa hàng “0 đồng” ở những nơi, những khu phố, khu dân cư đông người bị phong tỏa, nơi không có các cơ sơ kinh doanh, cung ứng hàng hóa thiết yếu.

Chăm lo, động viên đời sống vật chất, tinh thần cho các lực lượng tuyến đầu tham gia trực tiếp chống dịch như cán bộ y tế, công an, quân đội, nhà báo, cán bộ công đoàn, cán bộ, công chức, tình nguyện viên… chú ý việc ưu tiên tiêm vaccine và có các chế độ, chính sách hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng này.

Tinh thần chung là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn chia sẻ, lắng nghe và hỗ trợ tối đa Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống dịch; yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là các địa phương trong vùng phối hợp chặt chẽ với Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết, xử lý kịp thời các kiến nghị, đề xuất một cách phù hợp, tạo mọi thuận lợi cho Thành phố tập trung ưu tiên cho phòng, chống dịch, duy trì các hoạt động KTXH cần thiết và bảo đảm đời sống Nhân dân. Trong đó, Bộ trưởng Bộ Y tế, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan làm việc trực tiếp với Lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh mỗi khi có yêu cầu, đề xuất, kiến nghị và chịu trách nhiệm về thực hiện các nhiệm vụ công việc theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao; trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Y tế tập trung hỗ trợ về nguồn nhân lực, trang thiết bị, vật tư, sinh phẩm phục vụ cho phòng, chống dịch và điều trị, nhất là các ca bệnh nặng, đồng thời khẩn trương rà soát, cập nhật các cơ chế, chính sách, biện pháp phòng, chống, điều trị liên quan, và phải giải quyết nhanh, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn của Thành phố.

Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm chủ trì chỉ  đạo tổ chức tốt việc lưu thông hàng hóa nhanh, thuận lợi, nhất là hàng hóa thiết yếu cho đời sống và sản xuất trên địa bàn Thành phố và các địa phương trong vùng.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chủ trì bảo đảm cung ứng hàng nông sản, các sản phẩm nông nghiệp thiết yếu phục vụ đời sống của Nhân dân trên địa bàn Thành phố và các địa phương vùng có dịch.

Bộ Công Thương chịu trách nhiệm chủ trì bảo đảm hệ thống bán hàng, kết nối cung cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhân dân trên địa bàn Thành phố và các địa phương vùng có dịch; đồng thời bảo đảm giải quyết các vấn đề liên quan đến sản xuất, lưu thông các hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh và xuất khẩu một cách phù hợp hiệu quả trên địa bàn Thành phố và trong vùng.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội từ thực tiễn thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, kịp thời bổ sung các đối tượng cần hỗ trợ một cách phù hợp, linh hoạt, không để sót, để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, không để xảy ra tình trạng tiêu cực, lợi dụng chính sách.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương, đặc biệt là các tỉnh trong vùng phải tạo mọi thuận lợi hỗ trợ, chia sẻ với Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là trong việc tiếp nhận những người trở về từ Thành phố và bảo đảm các quy định về phòng, chống dịch; đồng thời bảo đảm giao thông thông suốt, kịp thời đối với những hàng hóa, nhu yếu phẩm cần thiết vận chuyển giữa địa phương với Thành phố và các địa phương khác trong vùng, nhưng phải bảo đảm an toàn phòng, chống dịch.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Bộ Y tế xây dựng các văn bản hướng dẫn việc bảo vệ an toàn cho công nhân, người lao động để vừa sản xuất, vừa phòng, chống dịch hiệu quả theo tinh thần 3 tại chỗ: chống dịch tại chỗ, ăn nghỉ tại chỗ, sản xuất tại chỗ ở những nơi có đủ điều kiện và tự nguyện thực hiện.

Chú trọng đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác; có phân tích đánh giá, tạo sự yên tâm, truyền cảm hứng, kêu gọi, động viên người dân, doanh nghiệp cùng chia sẻ, chung tay trong phòng, chống dịch; không để xảy ra khủng hoảng truyền thông, không để người dân thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin không chính xác, không để bị kẻ xấu xuyên tạc, lợi dụng làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp chặt chẽ với Thành phố Hồ Chí Minh và các bộ, ngành, địa phương liên quan tập trung tuyên truyền, vận động, tạo đồng thuận xã hội để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn các chủ trương, đường lối, chính sách về phòng, chống dịch và phát triển KTXH trên địa bàn Thành phố, trong vùng và cả nước.

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành kết luận về một số dự án đường bộ cao tốc

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 187/TB-VPCP ngày 16/7/2021 Kết luận của Phó Thủ tướng Lê Văn Thành tại cuộc họp về triển khai một số dự án đường bộ cao tốc giai đoạn 2021 – 2025.

Cụ thể, đối với Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông (bao gồm đoạn Cần Thơ - Cà Mau): Dự án này Chính phủ đã có ý kiến; yêu cầu Bộ Giao thông vận tải hoàn thiện Tờ trình và hồ sơ có liên quan, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định theo quy định.

Đối với Dự án đường Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh: UBND Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, cùng với Bộ Giao thông vận tải (trên cơ sở thống nhất với UBND các tỉnh: Long An, Bình Dương, Đồng Nai) chỉ đạo hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đối với Dự án đường Vành đai 4 vùng Thủ đô Hà Nội: Giao UBND phố Hà Nội chuẩn bị đầu tư Dự án (trên cơ sở đã thống nhất với UBND các tỉnh: Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc), thống nhất với Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo hoàn thiện hồ sơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Xem xét điều chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường kết nối Pháp Vân-Cầu Giẽ với đường Vành đai 3

Tại văn bản 4662/VPCP-CN ngày 13/7/2021, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, xử lý kiến nghị của UBND thành phố Hà Nội về việc điều chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đầu tư xây dựng đường kết nối đường Pháp Vân-Cầu Giẽ với đường Vành đai 3, thành phố Hà Nội.

Thí sinh không thể hoàn thành thi đợt 1 được dự thi ở đợt tiếp theo

Tại văn bản số 4800/VPCP-KGVX ngày 16/7/2021, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế căn cứ tình hình dịch COVID-19 có kế hoạch cụ thể tổ chức đợt thi tiếp theo của Kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, giáo dục nghề nghiệp năm 2021, bảo đảm an toàn, quyền lợi của thí sinh và triển khai kế hoạch năm học 2021 – 2022.

Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát, tạo điều kiện để các thí sinh không thể hoàn thành thi đợt 1 vì các lý do khác nhau (trừ trường hợp gian lận) được dự thi ở đợt thi tiếp theo./.