(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán bị phạt đến 100 triệu đồng

Theo Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.

Trong đó, với lĩnh vực kế toán, về xử phạt hành vi vi phạm quy định chung về pháp luật kế toán, phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Áp dụng sai quy định về chữ viết; chữ số trong kế toán; áp dụng sai quy định về đơn vị tiền tệ trong kế toán; áp dụng sai quy định về kỳ kế toán; áp dụng sai chế độ kế toán mà đơn vị thuộc đối tượng áp dụng.

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi ban hành, công bố chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán, chế độ kế toán không đúng thẩm quyền.

Phạt đến 30 triệu đồng hành vi giả mạo, khai man chứng từ kế toán

Về xử phạt hành vi vi phạm quy định về chứng từ kế toán, phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Mẫu chứng từ kế toán không có đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định; tẩy xóa, sửa chữa chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán bằng mực màu đỏ, mực phai màu; ký chứng từ kế toán bằng đóng dấu chữ ký khắc sẵn; chứng từ chi tiền không ký theo từng liên.

Phạt tiền từ 5-10 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Lập chứng từ kế toán không đủ số liên theo quy định của mỗi loại chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký; ký chứng từ kế toán mà không đúng thẩm quyền; chữ ký của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký; chứng từ kế toán không có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ; không dịch chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài ra tiếng Việt theo quy định; để hư hỏng, mất mát tài liệu, chứng từ kế toán đang trong quá trình sử dụng.

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Giả mạo, khai man chứng từ kế toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man chứng từ kế toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; lập chứng từ kế toán có nội dung các liên không giống nhau trong trường hợp phải lập chứng từ kế toán có nhiều liên cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; lập nhiều lần chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh; thực hiện chi tiền khi chứng từ chi tiền chưa có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kế toán.

Phạt nặng hành vi khai man số liệu báo cáo tài chính

Nghị định cũng quy định cụ thể mức phạt hành vi vi phạm quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính. Cụ thể, phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Lập báo cáo tài chính không đầy đủ nội dung hoặc không đúng biểu mẫu theo quy định; báo cáo tài chính không có chữ ký của người lập, kế toán trưởng, phụ trách kế toán hoặc người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán.

Đối với một trong các hành vi: Lập không đầy đủ các báo cáo tài chính theo quy định; áp dụng mẫu báo cáo tài chính khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán trừ trường hợp đã được Bộ Tài chính chấp thuận thì sẽ bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.

Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Không lập báo cáo tài chính theo quy định; lập báo cáo tài chính không đúng với số liệu trên sổ kế toán và chứng từ kế toán; lập và trình bày báo cáo tài chính không tuân thủ đúng chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán.

Phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Giả mạo báo cáo tài chính, khai man số liệu trên báo cáo tài chính nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo báo cáo tài chính, khai man số liệu trên báo cáo tài chính nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cố ý, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nghị định có hiệu lực từ 1/5/2018.

6 loại tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân

6 loại tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được quy định cụ thể tại Nghị định số 29/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

6 tài sản thuộc đối tượng được xác lập quyền sở hữu toàn dân gồm:

1- Tài sản bị tịch thu theo quy định của pháp luật gồm: Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu; vật chứng vụ án, tài sản khác bị tịch thu theo quy định của pháp luật về hình sự, pháp luật về tố tụng hình sự.

2- Tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy, tài sản không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật dân sự; hàng hóa tồn đọng thuộc địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan.

3- Tài sản của quỹ xã hội, tài sản của quỹ từ thiện bị giải thể nhưng không có quỹ khác có cùng mục đích hoạt động nhận tài sản chuyển giao hoặc bị giải thể do hoạt động vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật dân sự (tài sản của quỹ bị giải thể).

4- Tài sản do tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hiến, biếu, tặng cho, đóng góp, viện trợ, tài trợ nhưng chưa hạch toán ngân sách nhà nước và hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác cho Nhà nước Việt Nam (tài sản do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước).

5- Tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động.

6- Tài sản được đầu tư theo hình thức đối tác công tư được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam theo hợp đồng dự án.

Nguyên tắc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản

Nghị định nêu rõ việc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản phải được lập thành văn bản; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân có liên quan.

Việc quản lý nhà nước đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan.

Việc xác định giá trị và xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được thực hiện theo cơ chế thị trường.

Việc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân được thực hiện công khai, minh bạch; mọi hành vi vi phạm phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng phê duyệt Đề án Quản lý hoạt động truyền thanh - truyền hình cấp huyện

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Quản lý hoạt động truyền thanh - truyền hình cấp huyện đến năm 2020”.

Mục tiêu của Đề án đến năm 2020, 100% cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện được trang bị các thiết bị phục vụ việc số hóa sản xuất chương trình phát thanh; 100% người làm việc tại cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm; 95% cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện được trang bị hệ thống truyền thanh không dây.

Đồng thời, 100% cơ sở truyền thanh cấp xã thuộc địa bàn huyện vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp được sóng của cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện và nâng cấp trên 300 cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện và trạm phát lại truyền thanh - truyền hình theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

Để đạt được mục tiêu trên, từ nay đến năm 2020, Đề án sẽ kiện toàn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, truyền dẫn phát sóng; nâng cao chất lượng nội dung chương trình.

Trong đó, Đề án thực hiện đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống thiết bị sản xuất chương trình phát thanh số của cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện, đồng bộ với các thiết bị sản xuất chương trình phát thanh của Đài Phát thanh - Truyền hình cấp tỉnh để cung cấp các chương trình phát thanh cho Đài Phát thanh - Truyền hình cấp tỉnh; đầu tư thiết bị lưu trữ số để phục vụ công tác thống kê, khai thác lại tin, bài, chương trình đã phát; đặc biệt chú trọng đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở truyền thanh - truyền hình cấp huyện ở vùng nông thôn, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bảo đảm cung cấp thông tin thời sự phản ánh kịp thời tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương, cơ sở với nội dung phong phú, hình thức thể hiện hấp dẫn; bảo đảm cung cấp các thông tin thiết yếu, các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng nông thôn mới, xóa đói, giảm nghèo, giúp người dân có kiến thức áp dụng vào tình hình thực tế tại địa phương với nội dung ngắn gọn và dễ hiểu...

Chuyển mục đích sử dụng đất tại Hải Phòng

Thủ tướng Chính phủ đồng ý UBND thành phố Hải Phòng quyết định chuyển mục đích sử dụng 105,89 ha đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa nêu trên theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ.

Triển khai Đề án tổng thể đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân

Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013-2020 (Đề án 896) vừa ký quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án này năm 2018.

Theo đó, năm 2018, các Bộ, ngành và cơ quan liên quan sẽ thực hiện xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; rà soát, đề xuất phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư của các Bộ, ngành và các hoạt động khác.

Về xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trong năm 2018, Bộ Công an, Công an các tỉnh,  thành phố trực thuộc Trung ương sẽ tổ chức các lớp đào tạo báo cáo viên, tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo nghiệp vụ thu thập thông tin dân cư tại địa phương. Bộ Công an chủ trì tổ chức triển khai thu thập, cập nhật dữ liệu dân cư vào hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Bộ Công an, Bộ Tư pháp chủ trì triển khai mở rộng cấp số định danh cá nhân.

Quý I/2018, Bộ Tài chính ban hành Thông tư quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Quý II và III/2018, các Bộ, ngành, địa phương đề xuất nhu cầu kết nối thông tin giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Cũng theo kế hoạch, Bộ Nội vụ sẽ chủ trì hoàn thiện xây dựng Nghị quyết về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân thuộc phạm vi quản lý nhà nước trình Chính phủ trong quý II/2018. Các Bộ, ngành ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết của Chính phủ về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân thuộc phạm vi chức năng quản lý của các Bộ, ngành.

Năm 2018 tiếp tục cơ cấu lại toàn diện DNNN

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp vừa ký Quyết định 112/QĐ-BĐMDN ban hành Chương trình công tác của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp năm 2018.

Theo đó, năm 2018 Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp sẽ tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), về sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN; về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đồng thời chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoàn thành cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước theo đúng kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; bảo đảm số thu về ngân sách nhà nước theo Nghị quyết của Quốc hội giao; kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, bất cập phát sinh trong triển khai thực hiện. Trước ngày 10/1/2019, các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có báo cáo đánh giá, kiểm điểm xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, các tổ chức, cá nhân có liên quan nếu không hoàn thành kế hoạch được giao, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Khẩn trương bán cổ phần lần đầu (IPO) đối với các doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ, cấp có thẩm quyền phê duyệt Phương án cổ phần hóa.

Cũng theo chương trình công tác năm 2018, Ban Chỉ đạo sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoàn thành việc phê duyệt đề án cơ cấu lại các DNNN. Tiếp tục cơ cấu lại toàn diện DNNN về tổ chức, nhân sự, chiến lược, quản trị, tài chính, công nghệ, sản phẩm, ngành nghề... để lành mạnh hóa tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động đối với từng doanh nghiệp. Đồng thời,  rà soát, xử lý dứt điểm tồn tại, yếu kém của DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả, hiệu quả thấp theo cơ chế thị trường và xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân liên quan...

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện điều kiện kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để tăng nhanh số lượng doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp khởi nghiệp hướng tới hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 nước ta có 1.000.000 doanh nghiệp hoạt động.

Chỉ đạo người đại diện đôn đốc các doanh nghiệp đã cổ phần hóa thực hiện đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán; xử lý nghiêm các trường hợp không tuân thủ quy định của pháp luật trong việc đăng ký giao dịch niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Khẩn trương, nghiêm túc thực hiện bàn giao các doanh nghiệp đã thống nhất, thuộc diện phải bàn giao, có chỉ đạo của Thủ tướng phải bàn giao về Tổng công ty Đầu tư Kinh doanh vốn nhà nước theo đúng quy định hiện hành; bàn giao các Tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn của Nhà nước trong danh sách DNNN thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ các Bộ, ngành về Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả, hiệu quả thấp theo cơ chế thị trường; thực hiện công khai, minh bạch, đúng pháp luật trong đầu tư, quản lý tài chính, mua sắm, phân phối thu nhập, công tác cán bộ; chỉ đạo thực hiện tốt chính sách đối với người lao động và lao động dôi dư trong doanh nghiệp nhà nước.

Áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, thực hiện nghiêm túc chế độ giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính; có cơ chế gắn việc tuyển dụng, bổ nhiệm, bãi miễn, đãi ngộ lãnh đạo doanh nghiệp và người lao động với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Bổ sung vốn điều lệ cho DNNN tỉnh An Giang

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước tỉnh An Giang.

Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh An Giang chỉ đạo các đơn vị có liên quan rà soát, nộp toàn bộ tiền thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp còn tồn tại địa phương về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp theo đúng quy định hiện hành; trên cơ sở đó, đồng ý với đề nghị của Bộ Tài chính về việc cấp 70 tỷ đồng từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp để bổ sung vốn điều lệ cho Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh An Giang theo phương án điều chỉnh vốn điều lệ đã được UBND tỉnh An Giang phê duyệt. Giao Bộ Tài chính xử lý cụ thể.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính có ý kiến về chủ trương đầu tư bổ sung vốn điều lệ và thẩm định phương án đầu tư bổ sung vốn điều lệ sử dụng nguồn Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp đối với Công ty TNHH một thành viên Khai thác thủy lợi An Giang theo phương án của UBND tỉnh An Giang đã báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ.

Phó Thủ tướng chỉ đạo gỡ vướng cho DN sản xuất, nhập khẩu ô tô

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tình hình thực hiện Nghị định số 116/2017/NĐ-CP ngày 17/10/2017 của Chính phủ quy định điều kiện sản xuất, láp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô.

Thông báo kết luận nêu rõ, hiện nay, thị trường ô tô Việt Nam đang ở giai đoạn tăng trưởng mạnh, xu hướng ô tô hóa bắt đầu diễn ra và dự báo sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới do nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng khá cao so với các nước trong khu vực, thu nhập của người dân từng bước được nâng cao, hạ tầng giao thông ngày càng đồng bộ, người dân có nhu cầu lớn trong việc sử dụng và sở hữu ô tô, trong khi tỉ lệ sở hữu ô tô hiện còn thấp…

Do đó, yêu cầu đặt ra là phải từng bước đáp ứng nhu cầu ô tô của thị trường, đồng thời phải bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng, đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường và đảm bảo tốc độ gia tăng phương tiện phù hợp với hệ thống hạ tầng; thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, nhất là yêu cầu tăng tỉ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp phụ trợ, tập trung tạo ra ô tô thương hiệu Việt Nam; thực hiện tốt các cam kết hội nhập, hợp tác quốc tế; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập.

Hiện nay, xu hướng tăng thêm các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ ô tô ngày càng rõ rệt, có sự phối hợp, liên kết chặt chẽ. Các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị công nghiệp ô tô theo hướng tập trung cho thị trường nội địa, lấy tiêu chuẩn khu vực, quốc tế làm mục tiêu cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đã xuất hiện những doanh nghiệp có tiềm lực, đầu tư lớn, bài bản, quyết tâm tạo ra thương hiệu ô tô Việt Nam. Đây là những bước phát triển rất tích cực của ngành công nghiệp ô tô thời gian qua.

Chính phủ khẳng định quan điểm đối xử với các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô bình đẳng, không phân biệt doanh nghiệp trong nước - ngoài nước mà cùng hướng đến mục tiêu chung là phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của thị trường và đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Sau một thời gian có hiệu lực, nhiều chính sách, quy định tiến bộ, phù hợp thực tế, đáp ứng yêu cầu phát triển ô tô tại Việt Nam của Nghị định 116 và Thông tư 03 đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, còn có một số ý kiến phản ánh về một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện liên quan đến sản xuất, nhập khẩu ô tô.

Chính phủ giao các Bộ, ngành, địa phương có liên quan chủ động tìm hiểu, giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu một cách nghiêm túc để ngày càng hoàn thiện hơn các chính sách về phát triển công nghiệp ô tô.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chiến lược, Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; đẩy mạnh triển khai các giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đối với ngành công nghiệp ô tô; cũng như tiếp tục đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô, Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công Thương phối hợp chặt chẽ, chủ trì hoặc đồng chủ trì, cùng với các Bộ, ngành liên quan tập trung thực hiện các vấn đề sau:

- Tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách hiện hành, hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện các chính sách, các quy định pháp luật liên quan đến phát triển ngành công nghiệp ô tô và tăng cường kiểm soát chất lượng ô tô ở Việt Nam.

- Kiểm soát nhập khẩu ô tô trong nội khối ASEAN theo Hiệp định Thương mại và Hàng hóa ASEAN (ATIGA), đảm bảo đáp ứng nghiêm các điều kiện được hưởng thuế suất bằng 0%.

-  Tiếp thu ý kiến của các đại biểu dự họp, các tổ chức, cá nhân liên quan để nghiên cứu, giải trình, nếu cần thiết thì kiến nghị để hoàn thiện Nghị định 116 và Thông tư 03, đáp ứng các yêu cầu về công bằng, minh bạch, và cạnh tranh theo những cam kết và thông lệ quốc tế, đảm bảo phát triển ngành công nghiệp ô tô đúng Chiến lược đã đề ra.

- Tổ chức ngay các đoàn đi khảo sát, kiểm tra thực tế để có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp (nếu có).

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì sớm trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội về những chính sách thuế liên quan đến việc thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.

Các nhà sản xuất lắp ráp ô tô cần quan tâm hơn nữa tới phát triển công nghiệp hỗ trợ, tiếp tục nghiên cứu đầu tư vào lĩnh vực ô tô, tạo ra ô tô thương hiệu Việt Nam. Trong quá trình thực hiện Nghị định 116 và Thông tư 03, nếu gặp vấn đề vướng mắc, các doanh nghiệp gửi ý kiến về Bộ Giao thông vận tải hoặc Bộ Công Thương để xem xét, xử lý theo thẩm quyền, các vấn đề vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm tái cơ cấu nông nghiệp

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đồng ý với đề xuất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm (2013-2018) thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Hội nghị dự kiến diễn ra vào tháng 10/2018.

Để việc tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp và Hội nghị toàn quốc diễn ra thiết thực, hiệu quả, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, khẩn trương chỉ đạo tổ chức sơ kết 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý nhà nước hoặc trên địa bàn được giao sâu sắc, toàn diện, thực chất.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tổ chức sơ kết; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổng hợp tài liệu, chuẩn bị tốt nội dung và công tác hậu cần, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi tổ chức Hội nghị./.