(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/4/2015.
Đất chuyên trồng lúa nước được NSNN hỗ trợ 1 triệu đồng/ha/năm

Theo Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý, sử dụng đất trồng lúa vừa được Chính phủ ban hành, ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ địa phương sản xuất lúa 1 triệu đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước.

Cụ thể, căn cứ vào diện tích đất trồng lúa, ngân sách nhà nước ưu tiên hỗ trợ sản xuất lúa cho các địa phương (gồm chi đầu tư và chi thường xuyên) thông qua định mức phân bổ ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Ngoài hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước theo quy định hiện hành, địa phương sản xuất lúa còn được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 1 triệu đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước; hỗ trợ 500.000 đồng/ha/năm đối với đất trồng lúa khác, trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa.

Diện tích đất trồng lúa được hỗ trợ, được xác định theo số liệu thống kê đất đai của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố của năm liền kề trước năm phân bổ ngân sách.

Về hỗ trợ khai hoang, cải tạo đất trồng lúa, ngân sách Nhà nước hỗ trợ địa phương sản xuất lúa 10 triệu đồng/ha đất trồng lúa, trừ đất trồng lúa nương được khai hoang từ đất chưa sử dụng hoặc phục hóa từ đất bị bỏ hóa. Trường hợp có nhiều quy định khác nhau, thì áp dụng nguyên tắc mỗi mảnh đất chỉ được hỗ trợ 1 lần, mức hỗ trợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Hỗ trợ 5 triệu đồng/ha đất chuyên trồng lúa nước được cải tạo từ đất trồng lúa nước một vụ hoặc đất trồng cây khác theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa.

Về nguồn và cơ chế hỗ trợ, đối với các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương và tỉnh Quảng Ngãi hỗ trợ 100% kinh phí; đối với các địa phương điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50% được hỗ trợ 50% kinh phí; các địa phương còn lại sử dụng ngân sách địa phương để thực hiện.

3 điều kiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm

Nghị định cũng quy định cụ thể 3 điều kiện chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản:

1- Không làm mất đi các điều kiện phù hợp để trồng lúa trở lại: Không làm biến dạng mặt bằng, không gây ô nhiễm, thoái hóa đất trồng lúa; không làm hư hỏng công trình giao thông, công trình thủy lợi phục vụ trồng lúa.

2- Phù hợp với kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm hoặc trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa của cấp xã.

3- Trường hợp trồng lúa đồng thời kết hợp với nuôi trồng thủy sản, cho phép sử dụng tối đa 20% diện tích đất trồng lúa để hạ thấp mặt bằng cho nuôi trồng thủy sản, nhưng phục hồi lại được mặt bằng khi chuyển trở lại để trồng lúa.

Người sử dụng đất đăng ký chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa với UBND cấp xã. UBND cấp xã xem xét sự phù hợp với các điều kiện quy định  khi tiếp nhận bản đăng ký và thống kê theo dõi việc sử dụng đất trồng lúa.

Đất trồng lúa được chuyển đổi cơ cấu cây trồng đáp ứng các quy định nêu trên vẫn được thống kê là đất trồng lúa, trừ diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi hoàn toàn sang trồng cây hàng năm hoặc nuôi trồng thủy sản.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/7/2015.

Điều chỉnh phương án sắp xếp DNNN tỉnh Lạng Sơn

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc điều chỉnh phương án sắp xếp doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (DNNN) thuộc UBND tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2015.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý với đề nghị của UBND tỉnh Lạng Sơn chuyển giao nguyên trạng Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bình Lộc và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đình Lập về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam trên cơ sở ghi nhận sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu theo giá trị sổ sách của doanh nghiệp chuyển giao quy định tại Nghị định số 128/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ về bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam tiếp nhận theo quy định hiện hành và thực hiện tái cơ cấu 2 doanh nghiệp trên cùng với cổ phần hóa Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam.

Thêm một hãng hàng không chung Globaltrans Air

Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý việc cấp Giấy phép kinh doanh hàng không chung vì mục đích thương mại cho Công ty cổ phần dịch vụ Globaltrans Air.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải thực hiện việc cấp Giấy phép theo đúng quy định của pháp luật.

Theo Cục Hàng không, Công ty Globaltrans Air là công ty cổ phần được thành lập vào tháng 7/2014 với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được Phòng Đăng ký kinh doanh Thành phố Hồ Chí Minh cấp, các cổ đông sáng lập là những nhà đầu tư Việt Nam, vốn điều lệ 100 tỉ đồng, đáp ứng quy định về vốn tối thiểu của hãng hàng không. Globaltrans Air cũng đã có bộ máy tổ chức khai thác tàu bay, bảo dưỡng với các chức năng, các vị trí phụ trách khai thác, huấn huyện, an toàn – an ninh.

Cục Hàng không Việt Nam cho biết, hiện Việt Nam mới chỉ có 3 doanh nghiệp kinh doanh hàng không chung là Tổng công ty trực thăng Việt Nam (VNH), Công ty bay dịch vụ hàng không (VASCO) và Công ty Hải Âu.

Đến 2050, Quy Nhơn thành đô thị trung tâm vùng duyên hải miền Trung

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, phạm vi quy hoạch có diện tích khoảng 67.788 ha bao gồm: Thành phố Quy Nhơn hiện hữu, diện tích khoảng 28.553 ha; huyện Tuy Phước có diện tích khoảng 21.713 ha; 2 xã Canh Vinh và Canh Hiển (huyện Vân Canh) có diện tích khoảng 13.676 ha; xã Cát Tiến, Cát Chánh và một phần xã Cát Hải (huyện Phù Cát) có diện tích khoảng 3.847 ha.

Ranh giới có phía Bắc giáp huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; phía Tây giáp thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định; phía Đông giáp biển Đông; phía Nam giáp thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Đến năm 2035 là một trong những trung tâm kinh tế biển của quốc gia

Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển đến năm 2025, thành phố Quy Nhơn trở thành một trong các đô thị trung tâm của vùng duyên hải miền Trung, phát triển theo định hướng công nghiệp - cảng biển - dịch vụ - du lịch. Đến năm 2035, là một trong những trung tâm kinh tế biển của quốc gia; phát triển theo định hướng dịch vụ - cảng biển - công nghiệp - du lịch, trọng tâm là dịch vụ - cảng biển.

Tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Quy Nhơn có vị trí quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và khu vực Đông Nam Á, là một trong những trung tâm phát triển lớn của khu vực Trung Bộ; có nền kinh tế phát triển theo định hướng du lịch - dịch vụ - cảng biển - công nghiệp, trọng tâm là du lịch - dịch vụ - cảng biển; có sức hút đầu tư lớn và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực  y tế, giáo dục, du lịch, môi trường, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao…

Phát triển theo mô hình đô thị đa trung tâm

Theo định hướng, thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận phát triển theo mô hình đô thị đa trung tâm với hai trung tâm chính là thành phố Quy Nhơn và Khu kinh tế Nhơn Hội. Các khu vực đô thị phát triển có cấu trúc mở, liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông vùng. Các lưu vực sông Hà Thanh, sông Côn, đầm Thị Nại, vịnh Quy Nhơn, bán đảo Phương Mai, núi Vũng Chua và vùng nông nghiệp huyện Tuy Phước là bộ khung tự nhiên có vai trò cân bằng trong phát triển đô thị.

Trong đó, thành phố Quy Nhơn là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của tỉnh Bình Định; một trong những trung tâm kinh tế biển của quốc gia, trung tâm công nghiệp, du lịch, thương mại - dịch vụ, dịch vụ vận tải biển, y tế, giáo dục đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ của vùng Nam Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.

Khu vực phụ cận (huyện Tuy Phước và 2 xã Canh Vinh, Canh Hiển, huyện Vân Canh) phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ thành phố Quy Nhơn với các chức năng: Công trình đầu mối hạ tầng đô thị; các trung tâm giao thương, dịch vụ đô thị, nhà ở xã hội… gắn với công nghiệp phụ cho Khu kinh tế Nhơn Hội.

Cải thiện môi trường nước thành phố Hạ Long

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt nội dung Hiệp định vay ODA Nhật Bản và cơ chế tài chính cho Dự án cải thiện môi trường nước Thành phố Hạ Long.

Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Thứ trưởng Bộ Tài chính Trương Chí Trung thay mặt Chính phủ Việt Nam ký kết Hiệp định vay nêu trên với phía Nhật Bản.

Bộ Ngoại giao thực hiện thủ tục ủy quyền theo quy định; Bộ Tư pháp cấp ý kiến pháp lý cho khoản vay sau khi ký kết.

Phê duyệt vốn vay ODA thực hiện tư vấn giám sát 6 dự án

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt khoản vốn vay ODA cho 6 Dự án thuộc Hiệp định vay giai đoạn 2 của Chương trình tính dụng hỗn hợp Na Uy/KfW để thực hiện hạng mục tư vấn giám sát quốc tế.

Cụ thể, 6 dự án gồm: 1- Dự án hệ thống thoát nước thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp: Vốn vay ODA là 544.566 Euro và phần thuế là 58.831 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 47 tháng.

2- Dự án nâng cấp và mở rộng hệ thống cấp nước thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên: Vốn vay ODA là 209.881 Euro và phần thuế là 22.674 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 24 tháng.

3- Dự án xây dựng và cải tạo hệ thống thoát nước, xử lý nước thải thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị: Vốn vay ODA là 473.730 Euro và phần thuế là 51.178 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 42 tháng.

4- Dự án xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn thành phố Sóc Trăng và các vùng lân cận tỉnh Sóc Trăng: Vốn vay ODA là 304.371 Euro và phần thuế là 32.881 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 30 tháng.

5- Dự án cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Vốn vay ODA là 388.728 Euro và phần thuế là 41.995 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 36 tháng.

6- Dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải Khu liên hợp công nghiệp - dịch vụ - đô thị Thụy Vân, tỉnh Phú Thọ (Giai đoạn 1): Vốn vay ODA là 275.391 Euro và phần thuế là 29.751 Euro; thời gian thực hiện Hợp đồng tư vấn giám sát quốc tế là 28 tháng.

Về cơ chế tài chính trong nước, Ngân sách nhà nước cấp phát 100% khoản vay ODA cho từng dự án. Phần thuế chi trả bằng vốn đối ứng của dự án do các địa phương tự thu xếp.

Khẩn trương tìm kiếm, thu hồi nguồn phóng xạ bị thất lạc

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa có ý kiến chỉ đạo về sự cố mất nguồn phóng xạ tại Nhà máy luyện phôi thép - Chi nhánh Công ty cổ phần thép Pomina trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, chỉ đạo các đơn vị chuyên môn theo chức năng, nhiệm vụ được giao tiếp tục khẩn trương triển khai các biện pháp nghiệp vụ, tìm kiếm, thu hồi nguồn phóng xạ bị thất lạc nhằm bảo đảm an toàn cho người dân.

Đồng thời, xem xét các dấu hiệu vi phạm quy định bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ để xử lý theo pháp luật; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Trước đó, ngày 1/4, Nhà máy luyện phôi thép Pomina 3 có đơn trình báo cơ quan chức năng về việc bị thất lạc nguồn phóng xạ. Nguồn phóng xạ bị mất là loại Co-60 (nguồn phóng xạ thuộc nhóm 4) do Công ty Thép Pomina nhập về từ năm 2010 dùng để đo mức thép lỏng trên dây chuyền lò đúc số 3, trong tổng số 5 dây chuyền của Nhà máy.

Mặc dù nguồn phóng xạ Co-60 bị thất lạc có hoạt độ phóng xạ không lớn, chu kỳ bán phân hủy ngắn, nguy cơ tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người dân có mức độ; các cơ quan chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã khẩn trương vào cuộc nhưng sự việc thất lạc nguồn phóng xạ  này đã gây lo lắng, bức xúc trong dư luận xã hội những ngày qua./.