(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/11/2015.
Phê chuẩn Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa

Thủ tướng Chính phủ vừa phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Lê Đức Vinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa.

Ông Lê Đức Vinh sinh ngày 15/12/1965, quê quán xã Diên An, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa, trình độ chuyên môn là Tiến sĩ kỹ thuật xây dựng.

Trước khi được phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, ông Lê Đức Vinh giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016 và tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVII mới đây, ông được bầu giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020.

* Thủ tướng Chính phủ cũng phê chuẩn việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa nhiệm kỳ 2011-2016 đối với ông Nguyễn Chiến Thắng, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy để nghỉ hưu theo chế độ.

Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão

Hoàn chỉnh quy hoạch hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá ở ven biển và các đảo có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tập trung nhiều tàu cá; đáp ứng nhu cầu neo đậu và dịch vụ hậu cần cho tàu cá và từng bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Quy hoạch hệ thống cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Phạm vi quy hoạch gồm 28 tỉnh, thành phố ven biển có cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá ở ven biển và các đảo.

Đến năm 2020, toàn quốc có 125 cảng cá gồm: 35 cảng cá loại I và 90 cảng cá loại II, đáp ứng tổng lượng thủy sản qua cảng khoảng 2.250.000 tấn/năm và 146 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (gồm 30 khu cấp vùng, 116 khu cấp tỉnh), đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 98.310 tàu cá.

Quy hoạch theo đảo và đất liền

Theo Quy hoạch, đến năm 2020, trong đất liền có 98 cảng cá gồm 29 cảng cá loại I, 69 cảng cá loại II, đáp ứng tổng lượng thủy sản qua cảng khoảng 2.041.000 tấn/năm và 124 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá gồm 20 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp vùng và 104 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh, đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 83.960 tàu cá.

Tại các đảo có 27 cảng cá, trong đó có 6 cảng cá loại I, 21 cảng cá  loại II, đáp ứng tổng lượng thủy sản qua cảng khoảng 209.000 tấn/năm và 22 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá gồm 10 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp vùng và 12 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh, đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 14.350 tàu cá.

Quy hoạch theo vùng biển

Đến năm 2020, vùng biển vịnh Bắc Bộ (các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình), có 33 cảng cá (7 cảng ở các đảo); 46 khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (4 khu ở các đảo) đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 26.300 tàu cá. Vùng biển miền Trung (các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận), có 49 cảng cá (11 cảng ở các đảo); 61 khu neo đậu tránh trú bão (9 khu ở các đảo đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 44.960 tàu cá.

Vùng biển Đông Nam Bộ (các tỉnh từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Cà Mau), có 30 cảng cá (2 cảng ở các đảo); 22 khu neo đậu tránh trú bão (2 khu ở các đảo) đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 16.900 tàu cá. Vùng biển Tây Nam Bộ (các tỉnh từ Cà Mau đến Kiên Giang), có 13 cảng cá (7 cảng ở các đảo); 17 khu neo đậu tránh trú bão (7 khu ở các đảo) đáp ứng nhu cầu neo đậu cho khoảng 10.150 tàu cá.

Trong giai đoạn 2016-2020 ưu tiên đầu tư xây dựng các cảng cá loại I trong các Trung tâm nghề cá lớn (cảng cá động lực); các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng tại các đảo và khu vực miền Trung; các cảng cá và khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đang đầu tư xây dựng dở dang.

Bảo tồn tài nguyên Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt danh mục Dự án “Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, giai đoạn 3”, sử dụng viện trợ ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức.

Dự án trên được thực hiện 1 năm (2015-2016) với nguồn vốn ODA không hoàn lại của Chính phủ Đức là 2 triệu Euro. Vốn đối ứng 175.000 Euro (do UBND tỉnh Quảng Bình tự thu xếp).

Mục tiêu của dự án là phương pháp tiếp cận và các bài học kinh nghiệm lồng ghép mục tiêu bảo tồn thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được các cơ quan quản lý địa phương đưa vào áp dụng và thực hiện trong quá trình hoạch định chính sách quốc gia.

Cụ thể, các mô hình mới nhằm nâng cao sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học trong vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được xây dựng và thực hiện trên cơ sở tham gia hỗ trợ của mạng lưới khuyến nông, trong đó có ưu tiên hỗ trợ phụ nữ và dân tộc thiểu số; các phương pháp tăng cường hợp tác liên biên giới giữa Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng và Khu Bảo tồn Hin Nậm Nô được thống nhất và đưa vào thực hiện với nguồn nhân lực và tài chính được bổ sung để cải thiện trao đổi thông tin liên quan giữa hai bên, nhằm hỗ trợ việc giảm thiểu các mối đe dọa đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của cả khu vực...

Tăng cường cơ sở vật chất cho hệ thống quản lý TNMT biển, hải đảo


Thủ tướng Chính phủ đồng ý triển khai thực hiện dự án "Tăng cường năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên-môi trường biển và hải đảo" tại Quyết định số 1876/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và thực hiện dự  án theo đúng các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn hiện hành, bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm và hiệu quả.

Vốn thực hiện dự án lấy từ nguồn đầu tư phát triển của ngân sách Trung ương. Thời gian thực hiện dự án từ 2016-2020. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm cân đối, bố trí nguồn vốn để thực hiện.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, dự án "Tăng cường năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên-môi trường biển và hải đảo" sẽ trang bị cho các đơn vị trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam những thiết bị chuyên dùng hiện đại, cần thiết, bảo đảm đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên môi trường trên các vùng biển Việt Nam, nhất là các vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề.

Đồng thời trang bị cho các Chi cục Biển và Hải đảo những thiết bị chuyên dùng thiết yếu, cần thiết và phù hợp với yêu cầu sử dụng của các Chi cục trong thực hiện nhiệm vụ điều tra cơ bản tài nguyên môi trường vùng biển gần bờ, đáp ứng yêu cầu thực hiện các dự án chuyên môn để phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên môi trường vùng bờ trong phạm vi quản lý.

Xây dựng nông thôn mới: Không bắt buộc người dân đóng góp

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh yêu cầu việc huy động đóng góp xây dựng nông thôn mới (NTM) của người dân phải được bàn bạc dân chủ; phải được sự đồng tình và nhất trí của người dân. Tuyệt đối không được yêu cầu dân đóng góp bắt buộc, quá sức dân.

Sau 5 năm thực hiện, với sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ cùng các Bộ, ngành Trung ương, sự nỗ lực vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền, cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân chung sức thực hiện, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đã có trên 13% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và 10 huyện, thị xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Bộ mặt nông thôn khang trang rõ rệt, đời sống của người dân nông thôn được cải thiện hơn, niềm tin vào chính sách của Đảng, của Chính phủ và công cuộc xây dựng nông thôn mới của đất nước và cả người dân ngày càng được nâng cao.

Bên cạnh những kết quả đạt được, gần đây, một số địa phương có biểu hiện chạy theo thành tích, nóng vội, dẫn đến huy động đóng góp của dân quá mức (nhất là đối với các hộ nghèo, khó khăn, gia đình chính sách), nợ đọng xây dựng cơ bản ở nhiều xã phấn đấu đạt chuẩn; đánh giá xuề xòa, tự hạ thấp chất lượng một số tiêu chí khi xét đạt chuẩn đã gây dư luận bất bình trong xã hội.

Để thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/7/2014 về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, văn bản số 1447/TTg-KTN ngày 13/8/2014 về việc huy động vốn góp của dân để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới yêu cầu việc phân bổ nguồn vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập kế hoạch trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, cần đảm bảo mức hỗ trợ 100% hoặc ít nhất 95% từ vốn ngân sách nhà nước cho các công trình trên các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn theo đúng qui định tại Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Không để nợ đọng xây dựng cơ bản

Về huy động các nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước đóng góp thực hiện Chương trình phải tùy thuộc vào khả năng, hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng địa phương và khả năng nguồn lực. Thực hiện nghiêm Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, không thực hiện xây dựng khi không có nguồn kinh phí đảm bảo, không để nợ đọng xây dựng cơ bản. Tỉnh cần rà soát, chỉ đạo xử lý và có biện pháp giải quyết kịp thời, dứt điểm đối với nợ đọng xây dựng cơ bản (nếu có).

Phó Thủ tướng yêu cầu việc huy động đóng góp của người dân phải được bàn bạc dân chủ; phải được sự đồng tình và nhất trí của người dân. Tuyệt đối không được yêu cầu dân đóng góp bắt buộc, quá sức dân; không huy động đối với hộ dân nghèo, người già, người tàn tật không nơi nương tựa, hộ khó khăn, gia đình chính sách, đối tượng hưởng trợ cấp xã hội.

Xây dựng nông thôn mới phải chú trọng đến công tác giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn xây dựng nông thôn mới với tái cơ cấu nông nghiệp góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân; chú trọng hướng dẫn, tổ chức, hỗ trợ người dân chủ động thực hiện các nội dung về phát triển y tế, văn hóa, xã hội, tạo cảnh quan môi trường nông thôn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, từng bước đẩy lùi tệ nạn xã hội, hủ tục lạc hậu, đảm bảo sự bình yên cho cuộc sống của người dân nông thôn.

Không xuề xòa khi xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới

Phó Thủ tướng yêu cầu về công tác thẩm định, đánh giá và xét công nhận địa phương đạt chuẩn nông thôn mới ở các cấp cần phải thực hiện đúng theo quy định, các tiêu chí được công nhận đạt chuẩn phải đảm bảo chất lượng và có tính bền vững cao; quy trình xem xét phải công khai, dân chủ, minh bạch, tránh hình thức, chạy theo thành tích; không cho nợ tiêu chí chưa đạt chuẩn theo qui định; xã, huyện đạt chuẩn phải không có nợ xây dựng cơ bản sai qui định.

Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng nông thôn mới. Nơi nào, cấp nào để xảy ra tình trạng để đọng nợ xây dựng cơ bản kéo dài hoặc huy động quá sức dân, gây bất bình trong nhân dân, hoặc đánh giá xuề xòa khi xét công nhận đạt chuẩn nông thôn mới dẫn đến hạ thấp chất lượng các tiêu chí thì người đứng đầu phải chịu trách nhiệm và phải được kiểm điểm xử lý kỷ luật nghiêm khắc.

Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phổ biến văn bản đến cán bộ các cấp và nhân dân để biết và thực hiện. Thường xuyên tổ chức chỉ  đạo, kiểm tra thực hiện nghiêm túc; đồng thời chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện những nội dung nêu trên.

Hoàn thiện quy định về bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí tự nguyện


Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại cuộc họp về dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện và dự thảo Nghị định về quỹ hưu trí tự nguyện.

Đối với dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện (dự thảo Nghị định), về phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, Phó Thủ tướng đồng ý quy định giới hạn thời gian đóng một lần cho nhiều năm về sau và đóng một lần cho những năm còn thiếu.

Về chính sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, Phó Thủ tướng yêu cầu quy định mức hỗ trợ và đối tượng được hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo hướng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn, cụ thể theo 3 mức:

- Bằng 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo.

- Bằng 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo.

- Bằng 10% đối với các đối tượng khác.

Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho phù hợp.

Phó Thủ tướng giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn chỉnh dự thảo Nghị định theo hướng nêu trên, trình Chính phủ trước ngày 15/11 tới.

Về dự thảo Nghị định quy định về quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện và Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm hưu trí bổ sung, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục khẩn trương hoàn thiện lại 2 dự thảo Nghị định trên.

Trên cơ sở đó, Phó Thủ tướng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan rà soát, làm rõ những điểm tương đồng và khác nhau giữa 2 dự thảo Nghị định, trong đó lưu ý các nội dung cơ sở pháp lý, phạm vi áp dụng, đối tượng tham gia, cơ chế quản lý quỹ này, trách nhiệm quản lý Nhà nước... báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/11 tới./.