(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 14/3/2016.
Thủ tướng chỉ thị tăng cường các giải pháp giảm quá tải bệnh viện

Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị về việc tăng cường các giải pháp giảm quá tải bệnh viện, mở rộng mạng lưới bệnh viện vệ tinh.

Chỉ thị nêu rõ, giải quyết tình trạng quá tải bệnh viện là một trong các nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của ngành y tế, được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo. Những năm gần đây, Bộ Y tế và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã triển khai nhiều giải pháp như cải tạo, đầu tư xây mới nhiều bệnh viện; thành lập mạng lưới bệnh viện vệ tinh; đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới; thực hiện luân phiên bác sĩ...

Tuy nhiên, tình trạng quá tải ở không ít bệnh viện tuyến trên vẫn khá căng thẳng. Một trong những nguyên nhân quan trọng là còn những địa phương chưa tham gia Đề án bệnh viện vệ tinh và không ít bệnh viện đã tham gia Đề án bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2013-2015 nhưng chưa được cấp đủ kinh phí, đầu tư trang thiết bị, bố trí đủ nhân lực để bảo đảm điều kiện tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ bệnh viện tuyến trên.

Ưu tiên đầu tư cho các bệnh viện vệ tinh

Để các giải pháp giảm quá tải bệnh viện được thực hiện mạnh mẽ, hiệu quả, bền vững hơn ở các tuyến, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo mở rộng mạng lưới bệnh viện vệ tinh, ưu tiên đầu tư cho các bệnh viện vệ tinh đảm bảo có đủ điều kiện tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật.

Bộ Y tế chỉ đạo các bệnh viện tuyến trên tăng cường chuyển giao kỹ thuật và chuyên môn cho tuyến dưới, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, một tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của các bệnh viện; công bố danh sách các bệnh viện đủ tiêu chuẩn làm bệnh viện hạt nhân để các bệnh viện vệ tinh lựa chọn đề xuất hỗ trợ chuyên môn; khẩn trương ban hành quy định để các chuyên gia, bác sĩ giỏi ở các bệnh viện hạt nhân có trách nhiệm tham gia khám, chữa bệnh ở các bệnh viện vệ tinh. Không phân biệt bệnh viện nhà nước hay bệnh viện tư nhân trong lựa chọn bệnh viện hạt nhân, bệnh viện vệ tinh.

Huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng mới bệnh viện

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng mới bệnh viện ngoài công lập, hợp tác với các bệnh viện nhà nước.

Đồng thời thực hiện chế độ cơ sở y tế tuyến trên định kỳ cử chuyên gia, bác sĩ đến khám, chữa bệnh tại cơ sở tuyến dưới, nhất là các vùng khó khăn; chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Bên cạnh đó đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống hỗ trợ y tế từ xa trong việc hội chẩn, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, tư vấn, hội thảo, đào tạo giữa các bệnh viện; hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở trên cơ sở gắn với mô hình bác sĩ gia đình bảo đảm phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng vùng, miền. Triển khai nhân rộng kết quả thực hiện thí điểm mô hình bác sĩ gia đình.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư và các nguồn vốn ODA cho việc đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị cho các bệnh viện thực hiện mục tiêu giảm giá tải. Bộ Tài chính bố trí đủ, kịp thời kinh phí để triển khai các giải pháp giảm quá tải bệnh viện theo quy định.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các bệnh viện trên địa bàn tham gia Đề án bệnh viện vệ tinh; ưu tiên bố trí ngân sách địa phương để các bệnh viện vệ tinh trên địa bàn đủ điều kiện tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ các bệnh viện hạt nhân; có chính sách ưu tiên thu hút nguồn nhân lực y tế chất lượng làm việc lâu dài tại các cơ sở khám, chữa bệnh của địa phương.
 
Đơn giản hóa thủ tục bảo vệ luận án và cấp bằng tiến sĩ

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính, quy định liên quan đến tuyển sinh, đào tạo trình độ tiến sĩ.

Trong đó, thủ tục bảo vệ luận án tiến sĩ đã  được đơn giản hóa. Cụ thể, quy định rõ trách nhiệm chuẩn bị hồ sơ của nghiên cứu sinh và của đơn vị chuyên môn.

Các thành phần hồ sơ nghiên cứu sinh phải chuẩn bị gồm: Luận án và tóm tắt luận án; thông tin về những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh); chứng chỉ ngoại ngữ của nghiên cứu sinh; văn bản đồng ý của các đồng tác giả (đối với công trình có đồng tác giả).

Các thành phần hồ sơ đơn vị chuyên môn phải chuẩn bị như: Biên bản chi tiết nội dung thảo luận tại các phiên họp đánh giá luận án cấp cơ sở; hai bản nhận xét của hai người phản biện luận án; các tài liệu khác theo quy định của Thủ trưởng cơ sở đào tạo.

Bỏ các thành phần hồ sơ do cơ sở đào tạo tạo lập trong quá trình tuyển sinh, đào tạo và một số thành phần hồ sơ không cần thiết, như: Bản kê khai danh mục và sao chụp những bài báo, công trình công bố liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh; chứng chỉ ngoại ngữ của nghiên cứu sinh; bản sao bằng tốt nghiệp đại học hoặc bằng thạc sĩ; danh sách các đơn vị và cá nhân được gửi tóm tắt luận án; bản sao quyết định công nhận nghiên cứu sinh và quyết định về những thay đổi trong quá trình đào tạo; bản sao bảng điểm các học phần của chương trình đào tạo thạc sĩ, các học phần bổ sung, các học phần của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, các chuyên đề tiến sĩ, điểm tiểu luận tổng quan.

Quy định luận án và tóm tắt luận án được ghi trong đĩa CD để đăng tải lên website để tránh tốn kém, lãng phí đồng thời thuận lợi cho công tác quản lý, lưu trữ.

Đơn giản hóa thủ tục cấp bằng tiến sĩ

Thủ tục cấp bằng tiến sĩ cũng đã được đơn giản hóa. Theo đó, bỏ quy định nghiên cứu sinh phải nộp thêm các hồ sơ, giấy tờ cho Thư viện của cơ sở đào tạo hoặc Thư viện quốc gia. Các hồ sơ, giấy tờ này gồm: Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện và danh sách thành viên Hội đồng; các bản nhận xét của tất cả các thành viên Hội đồng; biên bản và nghị quyết của Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện; văn bản báo cáo chi tiết về các điểm đã bổ sung, sửa chữa trong luận án (nếu có) theo nghị quyết của Hội đồng cấp trường hoặc viện, có xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án cấp trường hoặc viện.

Bên cạnh đó, bỏ quy định yêu cầu nghiên cứu sinh nộp thành phần hồ sơ cho cơ sở đào tạo, như: Biên bản chi tiết diễn biến của buổi bảo vệ luận án, câu hỏi của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và những người tham dự, trả lời của nghiên cứu sinh cho từng câu hỏi; nghị quyết của Hội đồng; các bản nhận xét của tất cả các thành viên của Hội đồng, của các cơ quan và các nhà khoa học gửi tới Hội đồng; biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá;  bản nhận xét, đánh giá của tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; danh sách Hội đồng có chữ ký của các thành viên tham dự buổi bảo vệ; tờ báo đăng tin hay bản sao chụp bản tin đăng báo ngày bảo vệ (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); bản in trang thông tin Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án trên trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Quy định giao trách nhiệm cho cơ sở đào tạo thực hiện đăng tin bảo vệ luận án (trừ luận án bảo vệ theo chế độ mật) cũng như gửi thông tin “Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận của luận án” để đăng trên trang Website của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
 
Tiếp tục xác định thôn đặc biệt khó khăn theo tiêu chí cũ

Tại Quyết định 12/2016/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ cho phép kéo thời gian thực hiện Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg ngày 18/7/2012 về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 và Quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26/6/2014 về ban hành Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn cho đến khi quy định mới của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề này có hiệu lực.

Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg ngày 18/7/2012 về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 chính thức có hiệu lực từ ngày 6/9/2012.
Bộ tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 có ưu điểm đặc biệt là đã lược bớt được những chỉ tiêu định tính, lượng hóa cụ thể nhiều tiêu chí quan trọng, cũng như đã bám sát chỉ tiêu nông thôn mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, bình xét và xây dựng, triển khai chính sách.

Đây là cơ sở để các cơ quan chức năng áp dụng các chính sách dân tộc; đồng thời là cơ sở cho các Bộ, ngành, địa phương xây dựng chính sách, lập kế hoạch phát triển phù hợp với đặc trưng của từng thời kỳ...

Còn Quyết định số 1049/QĐ-TTg ban hành Danh mục đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2014-2015, làm căn cứ thực hiện chế độ, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng trong cả nước, bảo đảm quốc phòng an ninh.

Quyết định 12/2016/QĐ-TTg nêu rõ, các tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi tại Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg và Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1049/QĐ-TTg được tiếp tục áp dụng từ ngày 1/1/2016.
 
Phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới.

Mục tiêu hướng tới là hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách về tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, đạo đức, có trình độ năng lực nghiệp vụ, góp phần củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Nâng cao hợp lý tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số ở các cơ quan của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số nhưng không tăng số lượng biên chế đã được cấp có thẩm quyền giao, phù hợp với Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; hình thành hệ thống thông tin, số liệu phản ánh thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước về công tác cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

Để đạt được mục tiêu trên, Đề án sẽ tiến hành nghiên cứu xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách có tính đặc thù trong tuyển dụng, nâng ngạch, thăng hạng; chế độ chính sách trong đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn, điều kiện trong quy hoạch, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số; nghiên cứu, quy định chế độ, chính sách thu hút nhân tài, trọng dụng, đãi ngộ, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội phù hợp đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ và hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số.

Cùng với đó là xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức theo 4 nhóm đối tượng: Đối tượng 1 (Lãnh đạo cấp tỉnh và tương đương); đối tượng 2 (Lãnh đạo cấp Sở và tương đương); đối tượng 3 (Lãnh đạo cấp Phòng và tương đương); đối tượng 4 (cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo).

Triển khai có hiệu quả các chính sách về thu hút, trọng dụng, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số; nâng cao tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý  ở các cơ quan, đơn vị, địa phương...
 
Thực hiện Bản Ghi nhớ về lao động với Malaysia

Kế hoạch thực hiện Bản Ghi nhớ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Malaysia về tuyển chọn và sử dụng lao động vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Theo đó, các bộ, ngành và địa phương, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao, nội dung Bản Ghi nhớ, thực tế tình hình lao động của địa phương và các nhiệm vụ được phân công tại Kế hoạch này để xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng kế hoạch và nội dung tuyên truyền Bản Ghi nhớ. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành cơ quan liên quan thực hiện công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thông tin truyền thông cơ sở. Các địa phương chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến Bản Ghi nhớ.

Bên cạnh đó, chủ trì thực hiện và hướng dẫn các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động sang Malaysia lao động theo hợp đồng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp, cung cấp danh sách các doanh nghiệp đã được cấp giấy phép đầu tư sang Malaysia cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện hoạt động đưa người lao động Việt Nam sang thực hiện dự án đầu tư tại Malaysia.
Doanh nghiệp đưa người lao động sang Malaysia làm việc chịu trách nhiệm tổ chức quản lý người lao động theo đúng hợp đồng đã ký và quy định tại Luật về Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo  hợp đồng.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì việc hướng dẫn Ban Quản lý lao động và chuyên gia tại Malaysia và các doanh nghiệp thực hiện.

* Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang Malaysia làm việc từ năm 2002. Năm 2003, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Malaysia đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác lao động. Thực hiện Bản ghi nhớ này, Việt Nam đã đưa được trên 220.000 lao động sang làm việc tại thị trường lao động này.

Tuy nhiên, những năm gần đây, số lượng người lao động sang Malaysia  đã giảm sút nhiều, nguyên nhân do sức hấp dẫn về tiền lương, thu nhập tại thị trường Malaysia không còn như trước; cơ chế quản lý giám sát đối với lao động nước ngoài còn hạn chế, dẫn đến vụ việc phát sinh liên quan đến người lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Do vậy, đến giữa năm 2015, Việt Nam và Malaysia đã ký kết lại Bản ghi nhớ về tuyển dụng và sử dụng lao động. Đây là cơ sở để thúc đẩy hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia trong thời gian tới và tạo điều kiện để quyền, lợi ích hợp pháp của lao động được bảo vệ tốt hơn.

Bản ghi nhớ quy định điều kiện tuyển dụng lao động, thời hạn sử dụng lao động, trách nhiệm của các bên, giải quyết tranh chấp...

Khác với lần trước, Bản ghi nhớ mới có 3 phụ lục về: Mẫu hợp đồng lao động ký giữa người lao động và người sử dụng lao động; trách nhiệm của người sử dụng lao động, công ty môi giới Malaysia, người lao động và doanh nghiệp Việt Nam; quy định các điều khoản tham chiếu cho nhóm công tác chung của hai Chính phủ theo dõi quá trình triển khai thực hiện Bản Ghi nhớ.

Đặc biệt, trong hợp đồng mẫu có nội dung quy định người lao động có quyền được giữ hộ chiếu và các giấy tờ cá nhân. Đây là những cơ sở quan trọng giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia.
 
UNIDO hỗ trợ xây dựng chiến lược ngành công nghiệp

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục Dự án "Hỗ trợ Chính  phủ xây dựng chiến lược ngành công nghiệp và các chính sách liên quan thông qua xây dựng năng lực thể chế" do Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) tài trợ.

Dự án trên được thực hiện trong 36 tháng với tổng kinh phí 1.080.000 USD. Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp của Việt Nam thông qua xây dựng chiến lược ngành cũng như các chính sách công nghiệp cụ thể, góp phần tăng cường năng lực thể chế của Chính phủ và khu vực tư nhân.

Theo đó, Dự án sẽ tăng cường năng lực thể chế trong việc xây dựng các báo cáo công nghiệp cho khu vực công và tư; cải thiện chiến lược công nghiệp Việt Nam dựa trên báo cáo công nghiệp có sẵn và năng lực thể chế được củng cố; xây dựng chính sách công nghiệp cụ thể triển khai chiến lược công nghiệp chung...

Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 203 nêu rõ, mục tiêu đến năm 2025, công nghiệp phát triển với cơ cấu hợp lý theo ngành và lãnh thổ, có khả năng cạnh tranh để phát triển trong hội nhập, có công nghệ hiện đại và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu.

Đến năm 2035, công nghiệp nước ta được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo...
 
Lựa chọn nhà thầu tư vấn lập đồ án xây dựng KKT Đông Nam Quảng Trị

Thủ tướng Chính phủ đồng ý việc lựa chọn nhà thầu tư vấn lập đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu Kinh tế (KKT) Đông Nam Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo quy định của Luật Đấu thầu năm 2013.

Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị chỉ đạo thực hiện phương án lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và quy định hiện hành về đấu thầu.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ  đã quyết định thành lập KKT Đông Nam Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. KKT này có diện tích tự nhiên 23.792 ha nằm ở phía Đông Nam tỉnh Quảng Trị, bao gồm 17 xã, thị trấn là: Hải An, Hải Ba, Hải Vĩnh, Hải Quế, Hải Khê, Hải Dương (thuộc huyện Hải Lăng); Triệu An, Triệu Phước, Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Lăng, Triệu Sơn (thuộc huyện Triệu Phong); Gio Quang, Gio Mai, Gio Hải, Gio Việt và thị trấn Cửa Việt (thuộc huyên Gio Linh).

KKT Đông Nam Quảng Trị bao gồm các khu chức năng như khu công nghiệp, khu hành chính, khu dân cư, khu du lịch, khu dịch vụ, khu cảng.

Mục tiêu phát triển chủ yếu của KKT Đông Nam Quảng Trị là khai thác tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị, khu vực Trung Bộ nhằm góp phần thu hẹp khoảng cách khu vực này với các vùng khác trong cả nước, kết hợp chặt chẽ giữa thu hút đầu tư, phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh.

KKT Đông Nam Quảng Trị được xây dựng và phát triển trở thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, địa bàn có tính đột phá của tỉnh Quảng Trị; cực phát triển quan trọng của vùng Trung Bộ; trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất điện năng, du lịch, thương mại dịch vụ; cảng biển lớn của vùng Trung Bộ; phát triển đô thị và những ngành kinh tế khác gắn với Hành lang kinh tế Đông Tây; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; đô thị văn minh, kiến trúc tiên tiến.
 
Cổ phần hóa Trung tâm Tư vấn giám sát xây dựng CTGT Vĩnh Phúc

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đồng ý chuyển Trung tâm Tư vấn và Giám sát xây dựng công trình giao thông (CTGT) Vĩnh Phúc thành công ty cổ phần.

Phó Thủ tướng ủy quyền cho UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt phương án cổ phần hóa Trung tâm trên và chỉ đạo thực hiện theo đúng quy định hiện hành.

Trung tâm Tư vấn và giám sát xây dựng công trình giao thông Vĩnh Phúc được thành lập ngày 06/01/2002. Trung tâm đã thực hiện đúng và hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong hoạt động còn tồn tại một số hạn chế như: Trung tâm chỉ duy trì được hoạt động, không phát triển, không phát phát huy hết năng lực hiện có của cán bộ nhân viên của Trung tâm, bị hạn chế trong đấu thầu tư vấn, giám sát với các công trình do Sở giao thông làm chủ đầu tư, quỹ lương và chế độ đãi ngộ cho người lao động ngày càng hạn hẹp, khó khăn.

UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, hiện nay, Trung tâm cần có sự cải tổ mạnh mẽ về cơ cấu, mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ. Để Trung tâm phát triển, nâng cao năng lực, tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã đề nghị chuyển Trung tâm thành công ty cổ phần với tên gọi của Trung tâm sau khi chuyển đổi là: Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và Xây dựng giao thông Vĩnh Phúc. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy đăng ký kinh doanh, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của Công ty.

Ngành nghề kinh doanh chính là Tư vấn: Lập dự án, thiết kế, quản lý, đấu thầu, thẩm định, thẩm tra thiết kế kỹ thuật và dự toán các công trình giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật; giám sát xây dựng các công trình; nghiên cứu, thí nghiệm và kiểm định đề tài khoa học áp dụng công nghệ mới trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản; thi công xây dựng các công trình và kinh doanh vận tải, vật liệu xây dựng./.