(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/5/2016.
Ưu đãi thuế thúc đẩy phát triển, ứng dụng CNTT

Để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp công nghệ thông tin (CNTT), đẩy mạnh thu hút đầu tư phục vụ cho phát triển CNTT theo các mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần thiết phải có thêm các chính sách hỗ trợ, trong đó có chính sách ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy hơn nữa ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam.

Nghị quyết về chính sách ưu đãi thuế thúc đẩy việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam vừa được Chính phủ ban hành.

Theo đó, đối với các giải pháp về chính sách ưu đãi thuế thuộc thẩm quyền của Quốc hội, bổ sung thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án: Sản xuất sản phẩm nội dung thông tin số, dịch vụ phần mềm, sản xuất sản phẩm CNTT trọng điểm, dịch vụ khắc phục sự cố an toàn thông tin, bảo vệ an toàn thông tin được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp như mức đang áp dụng đối với dự án sản xuất sản phẩm phần mềm theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các cá nhân nhân lực công nghệ cao làm việc trong lĩnh vực CNTT, là đội ngũ những người có trình độ và kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực CNTT; dịch vụ công nghệ cao trong lĩnh vực CNTT, quản lý hoạt động công nghệ cao trong lĩnh vực CNTT; vận hành các thiết bị, dây truyền sản xuất sản phẩm công nghệ cao trong lĩnh vực CNTT; quản lý an toàn hệ thống thông tin.

Bộ Tài chính được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông và các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ báo cáo Quốc hội việc sửa đổi, bổ sung các Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân để thực hiện các giải pháp trên vào thời điểm thích hợp.

Đối với các giải pháp về chính sách ưu đãi thuế thuộc thẩm quyền của Chính phủ, bổ sung các hoạt động CNTT cần đặc biệt khuyến khích là: Sản xuất và dịch vụ phần mềm; dịch vụ thiết kế, tư vấn CNTT; dịch vụ tích hợp hệ thống; dịch vụ quản lý, duy trì hệ thống CNTT (ứng dụng, mạng, thiết bị); dịch vụ thuê ngoài hệ thống CNTT; dịch vụ bảo mật hệ thống thông tin không sử dụng mật mã dân sự; dịch vụ xử lý, khai thác dữ liệu cơ sở dữ liệu; dịch vụ tìm kiếm thông tin trên mạng; dịch vụ trung tâm dữ liệu Data center; dịch vụ thuê ngoài BPO, KPO cho xuất khẩu; dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử vào Danh mục hoạt động thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.

Trường hợp dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực CNTT cần đặc biệt khuyến khích đầu tư nêu trên có sử dụng thường xuyên trên 1.000 lao động (kể cả trường hợp dự án đã hết thời gian gian 15 năm hưởng thuế suất 10%), được kéo dài thêm thời gian áp dụng mức thuế suất 10% trong 15 năm.

Vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra phạt đến 80 triệu đồng

Theo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, vi phạm quy định về kiểm tra hải quan, thanh tra sẽ bị phạt đến 80 triệu đồng.

Cụ thể, phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa chứng từ thuộc hồ sơ hải quan đã được đăng ký mà không ảnh hưởng đến số tiền thuế phải nộp hoặc không vi phạm chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Phạt tiền từ 2-4 triệu đồng đối với hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế của cơ quan hải quan.

Hành vi đánh tráo hàng hóa đã kiểm tra hải quan với hàng hóa chưa kiểm tra hải quan sẽ bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng.

Phạt tiền từ 40-80 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng niêm phong hải quan giả mạo; sử dụng chứng từ, tài liệu giả mạo, không hợp pháp, không đúng với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để khai, nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan mà không phải là tội phạm; sử dụng bất hợp pháp tài khoản đăng nhập, chữ ký số được cấp cho tổ chức, cá nhân khác để thực hiện thủ tục hải quan; truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan mà không phải là tội phạm.

Bổ nhiệm 2 Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam


Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cụ thể, tại Quyết định 888/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Trần Đình Liệu, Trưởng ban Thu, Bảo hiểm xã hội Việt Nam giữ chức Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Tại Quyết định 889/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Phạm Lương Sơn, Trưởng ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam giữ chức Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Hoàn thiện Đề án thành lập Học viện Dân tộc

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về việc thành lập Học viện Dân tộc.

Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ, cơ quan liên quan rà soát, hoàn thiện Đề án thành lập Học viện Dân tộc trên cơ sở tổ chức lại Trường Cán bộ Dân tộc và Viện Dân tộc theo hướng kết hợp nghiên cứu với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc các cấp. Không đào tạo cử nhân các ngành đã có tại các cơ sở đào tạo đại học khác. Tăng cường hợp tác, liên kết với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu để đào tạo văn bằng 2, đào tạo sau đại học đối với các ngành thiết thực phục vụ công tác dân tộc.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính cân đối, bố trí nguồn vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 để đầu tư xây dựng Học viện Dân tộc. Ủy ban Dân tộc rà soát lại quy mô, phân kỳ đầu tư xây dựng Học viện Dân tộc bảo đảm phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét phương án xây dựng Học viện Dân tộc trong Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng Vùng tỉnh Bình Định đến năm 2035

Phát huy lợi thế vị trí chiến lược và tiềm năng kinh tế biển, xây dựng hệ thống đô thị-nông thôn tỉnh Bình Định phát triển bền vững trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng. Nâng cao vị thế của tỉnh, tạo sức lan tỏa đến vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Á.

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch xây dựng Vùng tỉnh Bình Định đến năm 2035 (nhiệm vụ Quy hoạch).

Theo đó, phạm vi nghiên cứu trên ranh giới hành chính toàn tỉnh Bình Định có diện tích tự nhiên 6.050 km2 gồm 11 đơn vị hành chính: 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện.

Đánh giá vai trò của tỉnh trong mối quan hệ vùng quốc gia

Nhiệm vụ Quy hoạch yêu cầu nghiên cứu đánh giá vai trò và vị thế của tỉnh Bình Định trong mối quan hệ vùng quốc gia, quốc tế; tác động kinh tế - thương mại - văn hóa trên tuyến hành lang quốc tế Đông Tây. Đánh giá tác động lan tỏa từ thành phố Quy Nhơn và phụ cận; khu kinh tế Nhơn Hội, các khu công nghiệp tập trung, hệ thống cảng biển Quy Nhơn, Thị Nại, các di sản văn hóa, các đầu mối giao thông quốc gia... đến không gian đô thị toàn tỉnh Bình Định.

Về điều kiện tự nhiên, môi trường, cần đánh giá đặc điểm tự nhiên của vùng núi, gò đồi, đồng bằng ven biển, đầm phá. Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới các khu vực dự kiến xây dựng hệ thống đô thị và các khu chức năng động lực phát triển vùng tỉnh. Phân tích ảnh hưởng của chế độ thủy văn các sông lớn như sông Hà Thanh, sông Côn, sông Lại Giang, sông La Tinh... Đánh giá các tai biến thiên nhiên (nếu có), vấn đề biến đổi khí hậu liên quan đến chiến lược phát triển đô thị.

Ngoài ra, cần đánh giá thực trạng và nguồn lực phát triển vùng. Cụ thể, đánh giá hiện trạng kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Định. Hiện trạng phân bổ hệ thống các đô thị, tính chất, chức năng, quy mô, tỷ lệ đô thị hóa, động lực phát triển, thực trạng quản lý đô thị. Mối liên kết đô thị-nông thôn. Hiện trạng mạng lưới hạ tầng kinh tế, xã hội và hệ thống hạ tầng kỹ thuật diện rộng.

Xây dựng hệ thống đô thị và nông thôn phải phù hợp với chiến lược biển


Về định hướng phát triển không gian vùng tỉnh, nhiệm vụ Quy hoạch nêu rõ, xây dựng hệ thống đô thị và nông thôn phải phù hợp với chiến lược biển Việt Nam, hành lang kinh tế Đông Tây, định hướng phát triển đô thị toàn quốc, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và sự hình thành khu kinh tế Nhơn Hội.

Bên cạnh đó, đề xuất khung phát triển vùng, phân bổ các vùng kinh tế động lực đảm bảo khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của tỉnh về điều kiện tự nhiên và hệ thống khung hạ tầng kỹ thuật chính; đảm bảo mối liên kết đô thị - nông thôn. Hình thành các khu trọng điểm về công nghiệp, du lịch, vùng sinh thái nông nghiệp, vùng bảo vệ cảnh quan tự nhiên đáp ứng yêu cầu ứng phó biến đổi khí hậu.

Đề xuất tổ chức không gian hệ thống đô thị, phân cấp loại đô thị, lựa chọn hình thái, cấu trúc, tính chất, chức năng và quy mô các đô thị. Xác định vai trò và các nguyên tắc phát triển thành phố Quy Nhơn, đô thị động lực tiểu vùng ven biển, tiểu vùng trung du miền núi phía Tây; các đô thị chuyên ngành gắn với vùng công nghiệp, du lịch sinh thái, các hành lang đô thị hóa mật độ cao.

Xây dựng thành phố Quy Nhơn trở thành một trong những đô thị trung tâm vùng kinh tế trọng điểm của vùng và quốc gia về các lĩnh vực: Đào tạo chất lượng cao, y tế chuyên sâu, dịch vụ thương mại và du lịch, phát triển nhà ở và dịch vụ đô thị... xác định các chức năng hỗ trợ phát triển tại khu vực phụ cận TP. Quy Nhơn.

Xác định mô hình cấu trúc cư trú nông thôn gắn với các vùng sản xuất theo hướng tập trung áp dụng công nghiệp cao. Nghiên cứu mô hình cư trú nông thôn vùng ngập lũ tại hạ lưu các sông Côn, sông Hà Thanh; khu vực xung quanh đầm Thị Nại... Tạo động lực phát triển một số khu dân cư nông thôn tập trung theo hướng hình thành đô thị loại V; kết nối với các đô thị đã có, hệ thống hạ tầng vùng tỉnh, các khu vực công nghiệp, du dịch, thương mại tập trung.

Về giao thông, xác định khung giao thông, các công trình đầu mối giao thông toàn vùng tỉnh, kết nối giữa các đô thị và các khu vực đầu tư trọng điểm trong tỉnh, kết nối vùng với đầu mối giao thông quốc gia. Đề xuất quy mô và tuyến các trục hành lang giao thông quốc tế, quốc gia, giao thông nội tỉnh để tăng hiệu quả khai thác các quỹ đất mới tại các vùng huyện, kết nối khu kinh tế, khu công nghiệp với các trung tâm đô thị của tỉnh...

Hỗ trợ gạo cho tỉnh Đắk Lắk

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 1.457,51 tấn gạo (bao gồm 500 tấn gạo đã xuất cấp theo Thông báo số 58/TB-VPCP ngày 29/3/2016) từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Đắk Lắk để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong thời gian giáp hạt và hạn hán năm 2016.

Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp nêu trên để hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định.

Trường hợp sau khi thực hiện vẫn còn khó khăn, địa phương báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, tiếp tục hỗ trợ.

Thành lập Ủy ban quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại phiên họp lần thứ 6 của Ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế hải quan một cửa quốc gia.

Phó Thủ tướng đồng ý Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ thành lập Ủy ban chỉ  đạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN, cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại; trong đó có bổ sung thành viên, nhiệm vụ hoạt động.

Các Bộ, cơ quan sớm rà soát để quyết định cử Lãnh đạo Bộ, đơn vị tham gia vào Ban Chỉ đạo; đơn vị  đầu mối thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia để phối hợp, làm việc với Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo; có văn bản gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý II/2016.

Căn cứ Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử, Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020 và ý kiến của các Ủy viên Ban Chỉ đạo, Bộ Tài chính hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016-2020, trong đó bổ sung việc ban hành cẩm nang về Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN để thông tin, tuyên truyền rộng rãi đến các Bộ, ngành, doanh nghiệp, hiệp hội; kinh phí hỗ trợ công tác đào tạo cán bộ của các Bộ, ngành, đơn vị triển khai thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN.

Phó Thủ tướng cũng đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính về việc nghiên cứu, xây dựng cơ chế đặc thù trong việc lập, phê duyệt các dự án công nghệ thông tin thực hiện Cơ chế một của quốc gia của các Bộ, ngành, đơn vị. Giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan liên quan xử lý, trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đồng Tháp

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý chủ trương rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đồng Tháp thời kỳ đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 470/QĐ-TTg ngày 30/3/2011.

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Đồng Tháp thực hiện việc lập, trình phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh theo đúng quy định tại Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, Nghị định số 4/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 và các văn bản pháp luật có liên quan.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020. Mục tiêu tổng quát nhằm phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững, trong đó chú trọng chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, phấn đấu kinh tế của Tỉnh xếp vào hàng khá trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và có vị trí tương xứng là cửa ngõ của Vùng.

Đồng thời phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông; từng bước tạo ra những tiến bộ cơ bản, vững chắc trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; thực hiện đa dạng hóa sản phẩm công nghiệp, trước hết là những sản phẩm công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; quan tâm đầu tư hạ tầng thương mại-dịch vụ, tạo điều kiện cho du lịch phát triển nhanh sau năm 2015; tăng cường nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân; đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Khẩn trương xây dựng chiến lược xuất khẩu gạo

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến chỉ đạo về tình hình xuất khẩu gạo những tháng đầu năm 2016 và nhiệm vụ, giải pháp xuất khẩu gạo thời gian tới.

Cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương khẩn trương xây dựng Chiến lược xuất khẩu gạo của Việt Nam và đánh giá việc thực hiện Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 về kinh doanh xuất khẩu gạo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 1271/VPCP-KTTH ngày 26/02/2014 và số 43/TB-VPCP ngày 10/02/2015 của Văn phòng Chính phủ; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 6 tới.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá cụ thể về tác động ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn đến sản xuất lúa gạo; thường xuyên rà soát, cập nhật khả năng cân đối nguồn cung thóc, gạo hàng hóa để kịp thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương trong điều hành xuất khẩu gạo, bảo đảm an ninh lương thực trong nước và hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo.

Mức lương cơ sở  đối với CBCCVC và lực lượng vũ trang

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 47/2016/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/5/2016 mức lương cơ sở là 1.210.000 đồng/tháng.

Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động (gọi chung là người hưởng lương, phụ cấp) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.

Người hưởng lương, phụ cấp nêu trên gồm:

1-  Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp huyện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

2- Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

3- Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật Viên chức năm 2010.

4- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ  về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, gồm:

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp;

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong số lượng người làm việc đã  được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

5- Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

6- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ nghĩa vụ và công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

7- Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

8- Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

9- Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

Mức lương cơ sở dùng làm căn cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng nêu trên; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Mức lương cơ sở được điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhà nước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Kinh phí thực hiện

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương sử dụng nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương chưa sử dụng hết năm 2015 chuyển sang, sắp xếp trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được giao và nguồn thu (nếu có) để cân đối nguồn thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở năm 2016.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương và các khoản có tính chất lương) theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao năm 2016 của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; sử dụng nguồn tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương và các khoản có tính chất lương) ngoài khoản tiết kiệm nêu trên; sử dụng một phần nguồn thu của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

Bên cạnh đó, sử dụng 50% tăng thu ngân sách địa phương, không kể thu tiền sử dụng đất (bao gồm 50% tăng thu thực hiện so với dự toán thu năm 2015 do Thủ tướng Chính phủ giao và 50% tăng thu dự toán năm 2016 so với dự toán thu năm 2015 do Thủ tướng Chính phủ giao); nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2015 chưa sử dụng hết chuyển sang.

Đối với một số địa phương nghèo, ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện quy định nêu trên mà vẫn thiếu nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2016 thì ngân sách trung ương bổ sung số thiếu để địa phương thực hiện.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/7/2016. Mức lương cơ sở quy định tại Nghị  định này được tính hưởng kể từ ngày 1/5/2016.

Phương hướng điều hành giá một số mặt hàng thiết yếu 6 tháng cuối năm


Văn phòng Chính phủ vừa ra Thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Chỉ  đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá ngày 23/5/2016. Trong đó nêu rõ chỉ đạo của Phó Thủ tướng về phương hướng điều hành giá một số mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện, thuốc chữa bệnh, giá dịch vụ y tế… trong những tháng còn lại của năm 2016.

Cụ thể, về xăng dầu, Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu; xây dựng các kịch bản điều hành giá xăng dầu theo biến động của giá xăng dầu thế giới, điều hành giá kết hợp với sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu nhằm bình ổn giá mặt hàng này để kiềm chế mức tăng giá tác động đến lạm phát. Đánh giá lại việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu bình quân gia quyền trong công thức tính giá cơ sở và sớm đề xuất trình Chính phủ phương án thực hiện thuế nhập khẩu trong giá cơ sở trong thời gian tới. Kiểm soát chặt chi phí hao hụt trong khâu phân phối xăng dầu, nhất là đối với các đầu mối kinh doanh xăng dầu do Nhà nước quản lý.

Về điện, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) xây dựng và tính toán kịch bản về phương án điều chỉnh giá điện theo lộ trình thị trường trong đó có báo cáo cụ thể về giá thành, giá bán, lỗ lãi, các khoản còn treo, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Về thuốc chữa bệnh cho người, Bộ Y tế quản lý chặt chẽ giá thuốc, tiếp tục triển khai thực hiện các quy định mới về đấu thầu thuốc nhằm làm giảm giá mua thuốc của các cơ sở y tế công lập, từ đó giúp giảm chi phí tiền thuốc cho người bệnh. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và Bảo hiểm Xã hội Việt Nam trình Chính phủ phương án đấu thầu thuốc tập trung dùng cho bảo hiểm y tế.

Về giá dịch vụ y tế, Bộ Y tế xây dựng phương án điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dự báo các kịch bản của việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế tác động đến chỉ số giá tiêu dùng. Việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế cần thực hiện sớm và chia làm các đợt điều chỉnh để tránh tác động mạnh đến chỉ số giá tiêu dùng và tâm lý người dân. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế nghiên cứu về thẩm quyền quyết định giá dịch vụ y tế đối với người không có bảo hiểm y tế thực hiện theo Luật Giá hay theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Đối với giá dịch vụ giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán tác động của việc tăng giá dịch vụ giáo dục đến chỉ số giá tiêu dùng; tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương điều hành giá dịch vụ giáo dục trong năm 2016-2017 theo lộ trình phù hợp.

Với phí sử dụng đường bộ BOT, Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải tiếp tục tổng kết đánh giá 5 năm thực hiện việc thu phí BOT; rà soát tính đúng, tính đủ giá thành, chi phí đầu tư của các dự án BOT trên toàn quốc. Trước mắt chưa tăng phí BOT và giãn thời gian thu phí tối đa đối với các trạm thu phí BOT. Bộ Tài chính khẩn trương rà soát, điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT; đánh giá và đề xuất mức điều chỉnh hợp lý để giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016.

Về lương thực và các mặt hàng nông sản khác, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trình Chính phủ phương án cụ thể về hạn ngạch nhập khẩu đường, phương án tạm trữ muối và theo dõi sát diễn biến thị trường thóc gạo trong nước và thế giới để kịp thời đề xuất phương án điều hành phù hợp.

Về giá cho thuê đất, Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát lại giá thuê đất để đảm bảo ổn định chi phí đầu vào cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo về tiến độ điều chỉnh tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và tiến độ điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục (học phí) theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021 và dự kiến thời điểm và mức độ điều chỉnh tăng giá những tháng còn lại của năm 2016 gửi Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) trước ngày 5/6/2016 theo đường công văn và thư điện tử: dieuhanhgia@mof.gov.vn để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ của chính sách tiền tệ, xây dựng các phương án về điều hành tỷ giá, cung tiền, các yếu tố về tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tình hình lạm phát để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý./.