(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/6/2016.

Tiền lương đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước

Tiền lương, tiền thưởng của người lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng của thành viên Hội đồng thành viên hoặc thành viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên và Kế toán trưởng (người quản lý công ty) gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của công ty.

Đây là nội dung tại Nghị định 53/2016/NĐ-CP quy định về lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước.

Về tiền lương của người lao động, quỹ tiền lương kế hoạch của người lao động được xác định dựa trên số lao động kế hoạch và mức tiền lương bình quân kế hoạch.

Mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định căn cứ vào mức tiền lương trong hợp đồng lao động, mức tiền lương bình quân thực hiện theo kết quả sản xuất, kinh doanh của năm trước liền kề và gắn với chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch của công ty.

Cụ thể, đối với công ty có lợi nhuận thì mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định trên cơ sở mức tiền lương bình quân thực hiện theo kết quả sản xuất, kinh doanh của năm trước liền kề gắn với mức tăng/giảm năng suất lao động kế hoạch so với thực hiện năm trước liền kề, đảm bảo mức tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân.

Đối với công ty không có lợi nhuận hoặc lỗ (trừ các trường hợp khách quan) thì mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định bằng mức tiền lương bình quân trong hợp đồng lao động và tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, khi làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

Căn cứ quỹ tiền lương kế hoạch, tùy theo điều kiện thực tế, công ty xác định đơn giá tiền lương để điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạm ứng tiền lương cho người lao động. Quỹ tiền lương thực hiện được xác định trên cơ sở quỹ tiền lương kế hoạch và mức độ thực hiện các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh. Công ty xây dựng quy chế trả lương và phân phối tiền lương cho người lao động gắn với mức độ đóng góp, hiệu quả thực hiện công việc của người lao động.

Tiền lương, thù lao của người quản lý công ty

Ngoài quy định tiền lương của người lao động, Nghị định cũng quy định cụ thể tiền lương, thù lao của người quản lý công ty. Theo đó, quỹ tiền lương kế hoạch của người quản lý công ty chuyên trách được xác định dựa trên số lượng người quản lý công ty chuyên trách và mức tiền lương bình quân kế hoạch.

Mức tiền lương bình quân kế hoạch đối với người quản lý công ty chuyên trách là người đại diện phần vốn nhà nước được xác định trên cơ sở mức tiền lương bình quân thực hiện năm trước liền kề gắn với việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp, bảo đảm tiền lương và thu nhập của người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm đối với người lao động và nhà nước theo quy định của pháp luật, các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch và bảo đảm tối đa không quá 36 triệu đồng/tháng (gọi là mức lương cơ bản, khi Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ bản thì thực hiện theo quy định mới của Chính phủ) đối với công ty có lợi nhuận kế hoạch dưới 50 tỷ đồng. Trường hợp công ty có lợi nhuận kế hoạch từ 50 tỷ đồng trở lên thì áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm tiền lương so với mức lương cơ bản.

Tuyển dụng vượt kế hoạch, Chủ tịch công ty không được thưởng, tăng lương

Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ vừa được Chính phủ ban hành.

Theo đó, về quản lý lao động, công ty phải xây dựng kế hoạch lao động hằng năm làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động. Kế hoạch lao động được xây dựng dựa trên kế hoạch sản xuất, kinh doanh, cơ cấu tổ chức, sắp xếp lại lao động hợp lý (đặc biệt là việc rà soát các đầu mối quản lý, sắp xếp tinh giản lao động gián tiếp) và định mức lao động của công ty.

Tổng số lao động trong kế hoạch lao động hằng năm trong điều kiện sản xuất, kinh doanh bình thường không được vượt quá 5% so với số lao động thực tế sử dụng bình quân của năm trước liền kề (sau khi đã cơ cấu tổ chức, sắp xếp lại).

Căn cứ kế hoạch lao động, Tổng Giám đốc, Giám đốc tổ chức tuyển dụng, bố trí, sử dụng lao động, bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật và quy chế tuyển dụng, sử dụng lao động, Điều lệ của công ty. Hàng năm, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chỉ đạo Tổng Giám đốc, Giám đốc đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng lao động, xác định trách nhiệm trong tuyển dụng, sử dụng lao động; giải quyết đầy đủ các chế độ, quyền lợi đối với người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động.

Đối với trường hợp tuyển dụng vượt quá kế hoạch hoặc không đúng kế hoạch, dẫn đến người lao động không có việc làm, phải chấm dứt hợp đồng lao động thì Tổng Giám đốc, Giám đốc phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phải chịu trách nhiệm trước cơ quan đại diện chủ sở hữu và không được thưởng, không được tăng lương, kéo dài thời gian nâng lương, giảm mức tiền lương.

Đây được coi là một nội dung để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người quản lý theo quy định tại Nghị định số 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Phân phối tiền lương

Công ty xây dựng và ban hành thang lương, bảng lương, phụ cấp lương theo Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương làm căn cứ để xếp lương, trả lương và thực hiện chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật lao động.

Căn cứ vào quỹ tiền lương thực hiện, công ty được trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau. Quỹ dự phòng của công ty không được vượt quá 17% quỹ tiền lương thực hiện. Đối với công ty sản xuất, kinh doanh có tính mùa vụ thì quỹ dự phòng không vượt quá 20% quỹ tiền lương.

Công ty xây dựng quy chế trả lương theo vị trí, chức danh công việc, bảo đảm trả lương thỏa đáng (không hạn chế mức tối đa) đối với người có tài năng, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật và đóng góp nhiều cho công ty.

Công ty phân phối tiền lương cho người lao động theo quy chế trả lương của công ty. Không được sử dụng quỹ tiền lương của người lao động để trả cho thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng.

Xếp lương đối với người quản lý Cty TNHH 1 thành viên

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Theo đó, người quản lý công ty chuyên trách tiếp tục xếp lương theo hạng công ty quy định tại bảng dưới làm căn cứ để thực hiện các chế độ theo quy định của pháp luật cho đến khi Chính phủ có quy định mới. Cụ thể:

Nguyên tắc trả tiền lương, thù lao, tiền thưởng

Nghị định quy định tiền lương đối với người quản lý công ty chuyên trách được xác định và trả lương gắn với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, kết quả quản lý, điều hành hoặc kiểm soát, có khống chế mức hưởng tối đa và bảo đảm tương quan hợp lý với tiền lương của người lao động trong công ty.

Thù lao đối với người quản lý công ty không chuyên trách tại công ty được tính theo công việc và thời gian làm việc, nhưng không vượt quá 20% tiền lương của người quản lý công ty chuyên trách; đối với người quản lý công ty được cử đại diện vốn góp ở nhiều công ty, doanh nghiệp khác thì khoản thù lao do công ty, doanh nghiệp khác trả được nộp về công ty để chi trả theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ, nhưng tối đa không vượt quá 50% mức tiền lương thực tế được hưởng tại công ty. Phần còn lại (nếu có) được hạch toán vào thu nhập khác của công ty.

Tiền thưởng của người quản lý công ty được xác định theo năm tương ứng với hiệu quả sản xuất, kinh doanh, kết quả quản lý, điều hành hoặc kiểm soát, được trả một phần vào cuối năm, phần còn lại sau khi kết thúc nhiệm kỳ.

Đối với trường hợp Chủ tịch công ty kiêm Tổng Giám đốc, Giám đốc thì chỉ được nhận tiền lương của một chức danh cao nhất.

Tiền lương, tiền thưởng, thù lao của Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên xác định theo quy định tại Nghị định này, sau khi trừ khoản phải nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản khác theo quy định của pháp luật để trích nộp cho cơ quan bảo hiểm, công ty nộp cho cơ quan đại diện chủ sở hữu để hình thành quỹ chung và chi trả cho Kiểm soát viên theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với Kiểm soát viên tài chính tại tập đoàn kinh tế nhà nước thì nộp cho Bộ Tài chính để đánh giá, chi trả.

Chế độ tự chủ tài chính của tổ chức KHCN công lập

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập thay thế Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP.

Sau 10 năm triển khai Nghị định số 115/2005/NĐ-CP với tinh thần đổi mới và giao quyền tự chủ mạnh mẽ cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhất là các quyền về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tài sản, tổ chức bộ máy và nhân lực, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ đã chuyển đổi thành công, khẳng định được vị thế, thương hiệu của đơn vị trên thị trường; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ khoa học.

Tuy nhiên việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP đến nay chưa có nhiều kết quả, các đơn vị chưa tự chủ được nguồn kinh phí bảo đảm tiền lương; kết quả nghiên cứu về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội...

Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Nghị định này quy định quyền tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập bao gồm quyền tự chủ về tài chính, thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, quản lý và sử dụng tài sản.

Theo Nghị định, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được phân loại theo mức độ tự bảo đảm về chi thường xuyên và chi đầu tư gồm: 1- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 2- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư); 3- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư); 4- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi đầu tư).

Cơ chế tự chủ

Nghị định 54/2016/NĐ-CP quy định rõ tự chủ về tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập trên.

Cụ thể, nguồn tài chính của tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên gồm nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu hợp pháp khác; nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; nguồn thu từ ngân sách nhà nước nếu được cơ quan có thẩm quyền giao để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên nếu được cơ quan có thẩm quyền giao; nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành.

Nguồn tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên gồm: nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, dịch vụ sự nghiệp công; nguồn thu từ ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ không thường xuyên; nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại để chi hoạt động thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí; nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định hiện hành; nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết và nguồn thu khác theo quy định hiện hành.

Chính sách thuế, tín dụng

Nghị định cũng quy định chính sách ưu đãi đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Theo đó, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được hưởng chính sách ưu đãi về thuế theo quy định hiện hành. Cụ thể, tổ chức khoa học và công nghệ công lập được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp thì được hưởng ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, cụ thể được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm, được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo.

Ngoài ra, tổ chức khoa học và công nghệ công lập còn được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng và các ưu đãi khác theo quy định hiện hành.

Kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc

Người sử dụng lao động phải thường xuyên theo dõi, giám sát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc.

Bên cạnh đó, phải có người hoặc bộ phận được phân công chịu trách nhiệm về kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc; đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, phải quy định việc kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đến từng tổ, đội, phân xưởng.

Đó là quy định tại Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động vừa được Chính phủ ban hành.

Cũng về kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, căn cứ vào việc nhận diện, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, người sử dụng lao động xác định mục tiêu và các biện pháp phù hợp để phòng, chống tác hại của các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, theo thứ tự ưu tiên:

1- Loại trừ các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại ngay từ khâu thiết kế nhà xưởng, lựa chọn công nghệ, thiết bị, nguyên vật liệu.

2- Ngăn chặn, hạn chế sự tiếp xúc, giảm thiểu tác hại của các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại bằng việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật và áp dụng các biện pháp tổ chức, hành chính (thông tin, tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng nội quy, quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe người lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động).

Xác định rõ thời gian, địa điểm và nguồn lực để thực hiện mục tiêu, biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại.

Đánh giá hiệu quả phòng, chống yếu tố có hại ít nhất 1 lần/năm

Về triển khai và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, người sử dụng lao động hướng dẫn người lao động biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc.

Người sử dụng lao động phải lập kế hoạch và tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại ít nhất 01 lần/năm; đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, phải được kiểm tra, đánh giá đến cấp tổ, đội, phân xưởng.

Việc kiểm tra biện pháp phòng, chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc gồm các nội dung: Tình trạng an toàn, vệ sinh lao động của máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng và nơi làm việc; việc sử dụng, bảo quản phương tiện bảo vệ cá nhân; phương tiện phòng cháy, chữa cháy; các loại thuốc thiết yếu, phương tiện sơ cứu, cấp cứu tại chỗ; việc quản lý, sử dụng máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức và khả năng của người lao động trong xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp.

Việc đánh giá hiệu quả biện pháp phòng, chống yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc gồm: Việc tổ chức triển khai các biện pháp phòng, chống yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc; kết quả cải thiện điều kiện lao động.

Kéo dài thông quan vải tươi tại Cửa khẩu quốc tế Kim Thành (Lào Cai)

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý cho phép triển khai thực hiện thí điểm kéo dài thời gian thông quan từ 07h00 đến 22h00 hàng ngày đối với mặt hàng quả vải tươi xuất khẩu sang Trung Quốc qua Cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành, Lào Cai đến hết ngày 31/7/2016.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Quốc phòng chỉ đạo Ủy ban Hợp tác quản lý cửa khẩu phía Việt Nam chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Lào Cai chỉ đạo việc thực hiện thí điểm trên.

Vụ vải thiều năm 2016, tỉnh Bắc Giang sản lượng ước đạt 130.000 tấn, Hải Dương 50.000 tấn.

Theo dự báo của Bộ Công Thương, vụ vải thiều năm nay sẽ có khoảng 78.000 tấn tiêu thụ trong nước và 52.000 tấn xuất khẩu. Thị trường chính của vải thiều xuất khẩu vẫn là Trung Quốc thông qua một số cửa khẩu trên địa bàn các tỉnh: Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh.

Thực hiện chương trình xúc tiến thương mại giữa Lào Cai và các tỉnh có vải thiều xuất khẩu, vải thiều xuất qua Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành được tạo điều kiện thuận lợi về mọi thủ tục. Tính trung bình mỗi lô hàng xuất khẩu chỉ diễn ra trong 10 phút. Các ngành hải quan, biên phòng, kiểm dịch, luôn túc trực tại Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số 2 Kim Thành đảm bảo các thủ tục được tiến hành nhanh nhất, không xảy ra tình trạng quả vải bị ứ đọng hay ách tắc.

Xem xét kết quả điều tra, xét xử vụ án Minh Sâm

Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kết quả việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án Nguyễn Ngọc Minh cùng đồng bọn.

Trong những ngày vừa qua, các phương tiện truyền thông đưa nhiều tin bài phản ánh việc đối tượng Nguyễn Ngọc Minh (tức Minh Sâm) cùng đồng bọn là đối tượng "xã hội đen" bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử hình sự sơ thẩm ngày 01/6/2016 với mức án thấp, thông tin báo chí và dư luận xã hội không đồng tình.

Về việc này, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kết quả việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án Nguyễn Ngọc Minh cùng đồng bọn nêu trên để giải quyết tiếp vụ án theo trình tự tố tụng phúc thẩm đúng pháp luật, xử lý nghiêm tội phạm.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo kiểm tra quá trình điều tra vụ án, sớm báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ.

Quyết liệt đấu tranh phòng, chống tội phạm

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo 138/CP tại buổi làm việc với cơ quan Thường trực và Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo 138/CP (Ban Chỉ đạo phòng, chống tội phạm của Chính phủ).

Phòng, chống tội phạm là một công tác quan trọng, thường xuyên, liên tục và lâu dài đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó lực lượng Công an nhân dân làm nòng cốt.

Phó Thủ tướng yêu cầu, thời gian tới, cơ quan Thường trực và bộ phận Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo 138/CP phải chủ động hơn nữa trong việc nắm tình hình, tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tội phạm.

Trước mắt, khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo, đồng thời sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo, trong đó cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn cơ chế phối hợp, chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm của từng Thành viên Ban Chỉ đạo.

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025, định hướng đến năm 2030; đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành việc xây dựng các đề án thành phần của Chiến lược trong năm 2016.

Bên cạnh đó, rà soát các nhiệm vụ công tác năm 2016 của Ban Chỉ đạo để chủ động tổ chức thực hiện, bảo đảm hoàn thành đúng tiến độ đề ra. Trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các chỉ thị của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội, chiến lược, chương trình của Chính phủ và các văn bản pháp luật mới ban hành liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống mua bán người.

Kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm

Phó Thủ tướng yêu cầu tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các giải pháp phòng, chống tội phạm, phòng, chống mua bán người, kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Cơ quan Thường trực xây dựng Kế hoạch thành lập các Đoàn công tác do các Ủy viên Ban Chỉ đạo làm Trưởng đoàn tiến hành kiểm tra tại một số địa phương trọng điểm.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, cơ quan Thường trực và bộ phận Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo 138/CP cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực các cơ quan và cán bộ làm công tác phòng, chống tội phạm về khả năng phát hiện, dự báo chính xác, kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm phi truyền thống; ưu tiên cho công tác giám định đáp ứng yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử; có cơ chế phù hợp huy động các nguồn kinh phí hợp pháp cho công tác phòng, chống tội phạm.

Nghiên cứu, đề xuất phương án kiện toàn, sáp nhập các tổ chức phối hợp liên ngành do lãnh đạo Chính phủ đứng đầu cùng có chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm theo hướng bảo đảm tính thống nhất, không trùng dẫm trong công tác chỉ đạo.

Tổ chức lại các đơn vị sản xuất vaccine thuộc Bộ Y tế

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc tổ chức lại các đơn vị sản xuất vaccine thuộc Bộ Y tế.

Cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Y tế tiếp tục thực hiện cổ phần hóa Công ty TNHH một thành viên Vắc xin và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Công ty TNHH một thành viên Vắc xin Pasteur Đà Lạt (DAVAC) theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, xác định lại giá trị tài sản của dự án ODA Hàn Quốc tại 2 công ty nêu trên để tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo cơ chế thị trường.

Bộ Y tế xây dựng phương án cổ phần hóa Trung tâm Nghiên cứu sản xuất vaccine và sinh phẩm y tế (POLYVAC), Viện Vắc xin và sinh phẩm y tế (IVAC), trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Bộ Y tế chuyển quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp nêu trên về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước sau khi thực hiện cổ phần hóa theo quy định.

Phó Thủ tướng cũng giao Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Thông báo số 297/TB-VPCP ngày 31/8/2015 của Văn phòng Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 01/10/2016.

Lựa chọn nhà thầu đánh giá DA Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đồng ý về nguyên tắc cho phép Bộ Công Thương lựa chọn nhà thầu tư vấn độc lập đánh giá Dự án đầu tư mở rộng giai đoạn 2 - Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên theo hình thức chỉ định thầu.

Bộ Công Thương có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và tự chịu trách nhiệm trước quyết định của mình.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên thanh toán, hạch toán chi phí thuê tư vấn độc lập trên theo quy định hiện hành.