(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2016.
Điều kiện sản xuất mỹ phẩm

Nghị định 93/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện sản xuất mỹ phẩm vừa được Chính phủ ban hành.
Theo đó, Nghị định quy định cụ thể điều kiện hoạt động của cơ sở sản xuất mỹ phẩm gồm: Được thành lập hợp pháp; có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm theo mẫu quy định.

Để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm, cơ sở sản xuất mỹ phẩm phải đáp ứng 3 điều kiện:

1- Về nhân sự, người phụ trách sản xuất của cơ sở phải có kiến thức chuyên môn về một trong các chuyên ngành: Hóa học, sinh học, dược học hoặc các chuyên ngành khác có liên quan đáp ứng yêu cầu của công việc.

2- Điều kiện về cơ sở vật chất:

- Có địa điểm, diện tích, nhà xưởng, trang thiết bị đáp ứng với yêu cầu về dây chuyền sản xuất, loại sản phẩm mỹ phẩm mà cơ sở đó dự kiến sản xuất như đã nêu trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm.

- Kho bảo quản nguyên liệu, vật liệu đóng gói và thành phẩm phải bảo đảm có sự tách biệt giữa nguyên liệu, vật liệu đóng gói và thành phẩm; có khu vực riêng để bảo quản các chất dễ cháy nổ, các chất độc tính cao, nguyên, vật liệu và sản phẩm bị loại, bị thu hồi và bị trả lại.

3- Có hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu: Nguyên liệu, phụ liệu dùng trong sản xuất mỹ phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất; nước dùng trong sản xuất mỹ phẩm tối thiểu phải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước uống do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; các loại bán thành phẩm đưa vào sản xuất phải có tiêu chuẩn chất lượng và đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất; có quy trình sản xuất cho từng sản phẩm; có bộ phận kiểm tra chất lượng để kiểm tra chất lượng của nguyên liệu, bán thành phẩm, sản phẩm chờ đóng gói và thành phẩm; có hệ thống lưu giữ hồ sơ tài liệu.

5 cấp độ bảo đảm an toàn hệ thống thông tin


Chính phủ ban hành Nghị định 85/2016/NĐ-CP quy định về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.

Nghị  định này quy định chi tiết về tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác định cấp độ an toàn hệ thống thông tin và trách nhiệm bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo từng cấp độ.

Nghị  định quy định cụ thể tiêu chí xác định 5 cấp độ. Cụ thể, hệ thống thông tin cấp độ 1 là hệ thống thông tin phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức và chỉ xử lý thông tin công cộng.

Hệ thống thông tin cấp độ 2 là hệ thống thông tin có một trong các tiêu chí cụ thể như sau: 1- Hệ thống thông tin phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan, tổ chức và có xử lý thông tin riêng, thông tin cá nhân của người sử dụng nhưng không xử lý thông tin bí mật nhà nước; 2- Hệ thống thông tin phục vụ người dân, doanh nghiệp thuộc một trong các loại hình như sau: Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến từ mức độ 2 trở xuống theo quy định của pháp luật; Cung cấp dịch vụ trực tuyến không thuộc danh mục dịch vụ kinh doanh có điều kiện; Cung cấp dịch vụ trực tuyến khác có xử lý thông tin riêng, thông tin cá nhân của dưới 1.000 người sử dụng; 3- Hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động của một cơ quan, tổ chức…

Hệ thống thông tin cấp độ 5 là hệ thống thông tin xử lý thông tin bí mật nhà nước hoặc hệ thống phục vụ quốc phòng, an ninh, khi bị phá hoại sẽ làm tổn hại đặc biệt nghiêm trọng tới quốc phòng, an ninh quốc gia; hoặc là hệ thống thông tin phục vụ lưu trữ dữ liệu tập trung đối với một số loại hình thông tin, dữ liệu đặc biệt quan trọng của quốc gia; hoặc là hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia phục vụ kết nối liên thông hoạt động của Việt Nam với quốc tế…

Trách nhiệm bảo đảm an toàn hệ thống thông tin


Nghị định quy định cụ thể trách nhiệm bảo đảm an toàn hệ thống thông tin. Theo đó, người đứng đầu của cơ quan, tổ chức là chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo và phụ trách công tác bảo đảm an toàn thông tin trong hoạt động của cơ quan, tổ chức mình. Trong trường hợp chưa có đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin độc lập, người đứng đầu của cơ quan, tổ chức là chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm chỉ định đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin làm nhiệm vụ chuyên trách về an toàn thông tin; thành lập hoặc chỉ định bộ phận chuyên trách về an toàn thông tin trực thuộc đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin.

Chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ đối với hệ thống thông tin thuộc phạm vi mình quản lý.

Đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin của chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực thi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác bảo đảm an toàn thông tin.

Phê duyệt danh sách 18 thành viên Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương

Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 1440/QĐ-TTg ngày 19/7/2016 phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương nhiệm kỳ 2016-2020 (Hội đồng). Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc làm Chủ tịch Hội đồng.

Hội đồng có các Phó Chủ tịch gồm: Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh (Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng); Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân; Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Bùi Văn Cường; Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương Trần Thị Hà (Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng).

13 Ủy viên Hội đồng gồm: Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Lương Cường; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng; Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Đào Việt Trung; Phó Trưởng ban thường trực, Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Thanh Bình; Phó Trưởng ban thường trực Ban Dân vận Trung ương Thào Xuân Sùng; Phó Trưởng ban, Ban Tuyên giáo Trung ương Lâm Phương Thanh; Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Thành; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Lại Xuân Môn; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Nguyễn Văn Được; Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Lê Quốc Phong; Phó Trưởng ban, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương Vương Văn Đỉnh.

Đắk Nông - Trung tâm kinh tế-xã hội của vùng Tây Nguyên

Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 1439/QĐ-TTg ngày 19/7/2016 phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng Vùng tỉnh Đắk Nông đến năm 2035 tầm nhìn đến năm 2050 nhằm cụ thể hóa mục tiêu quy hoạch chiến lược cấp quốc gia, quy hoạch xây dựng vùng Tây Nguyên, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đắk Nông từ đó đưa ra những dự báo và định hướng chiến lược nhằm phát huy tốt tiềm năng, thế mạnh và những đặc thù của tỉnh; khai thác có hiệu quả mối quan hệ nội ngoại vùng, các thế mạnh về nông lâm nghiệp, công nghiệp dịch vụ kinh tế cửa khẩu, năng lượng, khoáng sản, du lịch, văn hóa sinh thái và cảnh quan nhằm tạo lập môi trường sống tốt, đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân đảm bảo phát triển hài hòa và bền vững giữa đô thị và nông thôn.

Đồng thời, nghiên cứu đề xuất quy hoạch tổ chức không gian đô thị, phát triển dân cư, xây dựng mô hình phát triển không gian vùng tỉnh, hình thành hệ thống đô thị, phân loại, phân cấp đô thị, xác định tính chất đô thị, cải tạo, xây mới, nâng cấp… lựa chọn mô hình phát triển; đề xuất phân bố không gian xây dựng công nghiệp, du lịch, hệ thống hạ tầng xã hội và các điểm dân cư nông thôn, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu du lịch… trong đó xác định vùng động lực phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng cân bằng và bền vững; tạo lập cơ sở pháp lý cho các công tác quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị và nông thôn trong tỉnh, xây dựng các chương trình kế hoạch và hoạch định các chính sách phát triển, các dự án đầu tư, sử dụng hợp lý các nguồn lực.

Đến năm 2050, tỉnh Đắk Nông là một trong những trung tâm kinh tế-xã hội của vùng Tây Nguyên, một cực tăng trưởng quan trọng trong khu vực Tam giác phát triển (Việt Nam-Lào-Campuchia), có vị thế trên trường quốc tế.

Theo phê duyệt, phạm vi nghiên cứu trên ranh giới hành chính toàn tỉnh Đắk Nông có diện tích tự nhiên 6.509,27 km2 gồm 8 đơn vị hành chính, trong đó, có 1 thị xã và 7 huyện.

Vùng tỉnh Đắk Nông được quy hoạch là vùng có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng; là một trong những trung tâm kinh tế-xã hội của vùng Tây Nguyên, một cực tăng trưởng quan trọng trong khu vực Tam giác phát triển (Việt Nam-Lào-Campuchia), có vị thế trên trường quốc tế; là vùng trung tâm công nghệ khai thác chế biến bauxite-nhôm của Việt Nam.

Đồng thời là vùng nguyên liệu cây công nghiệp bền vững với các sản phẩm chủ lực có thương hiệu toàn cầu như cà phê, cao su…; là vùng có môi trường tự nhiên, văn hóa, lịch sử... được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị làm nền tảng phát triển du lịch văn hóa, sinh thái, là một phần quan trọng của vùng Tây Nguyên và là đầu mối giao thông có vị trí thuận lợi về giao thương với vùng Nam Tây Nguyên, khu vực tam giác phát triển với các khu vực khác của quốc gia và quốc tế gắn với hệ thống trung tâm giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, dịch vụ (tài chính, du lịch, trung chuyển hàng hóa...) cấp quốc gia./.