(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ kêu gọi chung tay, góp sức bảo vệ môi trường

Vì sự phát triển bền vững đất nước, vì cuộc sống bình yên và sức khỏe của nhân dân, của mỗi gia đình và tương lai các thế hệ mai sau, Thủ tướng kêu gọi các bộ, ngành, các cấp, các đoàn thể, mỗi doanh nghiệp, mỗi gia đình, mỗi người dân cùng chung tay, góp sức bảo vệ môi trường từ mỗi hành động nhỏ nhất, nỗ lực xây dựng đất nước Việt Nam xanh-sạch-đẹp, thân thiện trong con mắt bạn bè thế giới.

Thời gian vừa qua, tình trạng ô nhiễm môi trường, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường bùng phát, xảy ra nhiều sự cố môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống và an ninh trật tự xã hội. Từ đầu năm 2016 đến nay, toàn quốc đã có trên 50 vụ việc gây ô nhiễm môi trường, gây bức xúc trong xã hội, đặc biệt là sự cố môi trường nghiêm trọng ở ven biển 4 tỉnh miền Trung là bài học lớn cho các bộ, ngành, địa phương.

Cả nước vẫn còn tới 25% số khu công nghiệp và 95% số cụm công nghiệp chưa hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; tình trạng xả thải không qua xử lý ra môi trường là rất nghiêm trọng; còn hơn 300 cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng chưa được xử lý triệt để. Ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, tại các làng nghề, các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản, khu chăn nuôi tập trung, điểm giết mổ gia súc, gia cầm… là rất nghiêm trọng.

6 giải pháp nâng cao chất lượng môi trường

Vì vậy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu phải huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và mọi người dân; tập trung khắc phục hạn chế, yếu kém trên; thực hiện nghiêm, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp, tạo chuyển biến căn bản trong phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi và kiểm soát ô nhiễm, phục hồi và nâng cao chất lượng môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững.

Thứ nhất, xác định rõ bảo vệ môi trường là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các ngành, các cấp, các đoàn thể, cộng đồng doanh nghiệp, hộ gia đình và mọi người dân.

Không thu hút đầu tư bằng mọi giá, chú trọng tiêu chí môi trường trong lựa chọn dự án đầu tư. Kiên quyết không vì tăng trưởng kinh tế mà đánh đổi môi trường; cấm nhập khẩu công nghệ lạc hậu, triển khai các dự án có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường. Trong đó, làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhất là chính quyền địa phương và người đứng đầu. Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm về các vấn đề môi trường trong phạm vi quản lý. Chủ tịch UBND các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn, coi đây là nhiệm vụ cần tập trung, ưu tiên trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở đâu thì Chủ tịch UBND ở đó phải chịu trách nhiệm.

Làm rõ trách nhiệm tổ chức và cá nhân, thực hiện đúng và tuân thủ nghiêm trách nhiệm về bảo vệ môi trường đối với dự án đầu tư theo nguyên tắc: (i) Cơ quan phê duyệt phải chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường của dự án đầu tư; (ii) Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm về loại hình sản xuất, công nghệ sản xuất, không để gây ô nhiễm môi trường.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường huy động nguồn lực, thu hút  đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Nguồn vốn Ngân sách nhà nước tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, tồn đọng kéo dài, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của người dân và xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo về môi trường tại các vùng kinh tế trọng điểm, khu vực tập trung nhiều nguồn thải, khu vực nhạy cảm về môi trường.

Có giải pháp phù hợp thu hút mạnh đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào hoạt động xử lý chất thải, cung cấp các dịch vụ bảo vệ môi trường; phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ bảo vệ môi trường.

Thứ tư, rà soát, chấn chỉnh, tăng cường chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các công cụ, biện pháp bảo vệ môi trường (đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, kiểm tra, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm đối với các cơ sở đang hoạt động, thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính).

Tập trung hoàn thành Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trước năm 2020.

Thứ năm, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, xử lý chồng chéo, vướng mắc, hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng khẩn trương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ thành lập Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố khẩn cấp.

Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, đề xuất sửa đổi quy định về thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường theo hướng không báo trước, đảm bảo tính khách quan, hiệu quả, giám sát chặt chẽ, đúng tình trạng xả thải của doanh nghiệp; phối hợp với UBND tỉnh tăng cường thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, cảnh báo nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường.

Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành, địa phương có chương trình thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật, chế tài xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường đến từng doanh nghiệp và mỗi người dân.

Giải quyết dứt điểm các tồn đọng chính sách đối với Cựu TNXP


Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với Hội Cựu Thanh niên xung phong Việt Nam.

Thông báo kết luận nêu rõ, thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm và đã ban hành nhiều chính sách đối với Thanh niên xung phong. Gần đây Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2016/QĐ-TTg ngày 05/7/2016 điều chỉnh chế độ trợ cấp đối với thanh niên xung phong đang hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định số 40/2011/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ đối với Thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến; Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương xây dựng văn bản giải quyết chế độ đối với Thanh niên xung phong cơ sở ở miền Nam tham gia kháng chiến giai đoạn 1965-1975.

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; nghiên cứu trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng theo hướng người có công ngày càng được quan tâm chăm sóc, bảo đảm công khai, công bằng, đúng đối tượng, tránh bị lạm dụng.

Về đề nghị giải quyết chính sách đối với người bị nhiễm chất độc chiến tranh, tồn đọng chính sách đối với Cựu Thanh niên xung phong, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tập trung giải quyết trong năm 2016 ở một số tỉnh, phấn đấu năm 2017 cơ bản giải quyết dứt điểm các tồn đọng chính sách đối với Cựu Thanh niên xung phong.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng nghiên cứu công bố địa bàn giáp ranh bị nhiễm chất độc da cam để làm cơ sở cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét báo cáo sửa đổi các quy định về điều kiện, thủ tục hồ sơ công nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chiến tranh.

Về trường hợp 5 chiến sĩ Thanh niên xung phong khu 5 tập kết ra Bắc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ xây dựng tuyến đường sắt Chi Lăng - Đồng Văn, Lạng Sơn thời kỳ 1954 - 1956 đến nay chưa được công nhận liệt sĩ và chưa cho đưa hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang liệt sĩ, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trực tiếp thẩm định hồ sơ, sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong tháng 9/2016, bảo đảm chính sách cho anh em thực hiện nhiệm vụ.

Đối với việc thực hiện chế độ thù lao đối với những cán bộ lãnh đạo Hội Cựu Thanh niên xung phong không có lương hưu, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ kiểm tra, hướng dẫn thực hiện theo đúng Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg ngày 01/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các hội.

Hà Nam nỗ lực hơn nữa khai thác lợi thế vị trí địa kinh tế

Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Hà Nam cần phát huy những kết quả đạt được, nỗ lực hơn nữa để khai thác thế mạnh về dân trí, nguồn nhân lực và lợi thế vị trí địa kinh tế, có giải pháp sát hơn, phấn đấu đến năm 2018 có đóng góp vào ngân sách Trung ương.

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Nam.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Tỉnh tập trung quán triệt, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh. Tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trên tất cả các lĩnh vực, phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2016.

Bên cạnh đó, làm tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch ở cả đô thị và nông thôn, gắn với ứng phó biến đổi khí hậu; tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, du lịch. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân đối với các dự án đầu tư; ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm, dự án có khả năng sớm hoàn thành đưa vào sử dụng.

Hà Nam cần tập trung chỉ đạo tái cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh việc xúc tiến đầu tư, thúc đẩy phát triển du lịch, dịch vụ và sản xuất công nghiệp công nghệ cao, chuỗi giá trị lớn; phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, gắn với công nghiệp chế biến, đồng thời tiếp tục mở rộng, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

Chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới, gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng phát triển mạnh dịch vụ và ngành nghề phi nông nghiệp. Sử dụng tiết kiệm tài nguyên, đất đai; chú trọng bảo vệ môi trường, nguồn nước, nhất là lĩnh vực khai thác đá, cát sỏi, sản xuất xi măng...

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện năng lực cạnh tranh và môi trường đầu tư, kinh doanh; quan tâm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp. Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo; phát triển mạnh số lượng, quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 19 và Nghị quyết số 35 của Chính phủ. Tỉnh cần đề ra mục tiêu số doanh nghiệp thành lập mới đến năm 2020 và các biện pháp cụ thể để thực hiện.

Bên cạnh đó, Hà Nam cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có trình độ cao, đáp ứng chuỗi dịch vụ y tế, giáo dục, công nghiệp công nghệ cao; tạo việc làm cho người lao động; bảo đảm an sinh xã hội; có giải pháp giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tội phạm, bảo đảm giữ vững ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tiếp tục phấn đấu giảm và đẩy lùi tai nạn giao thông.

Tạo nguồn lực đầu tư cho các dự án cấp vùng, liên vùng

Về cơ chế tạo nguồn lực để các trường Đại học thuộc diện quy hoạch di dời ra khỏi nội thành Thủ đô Hà Nội và các bệnh viện tuyến Trung ương về đầu tư tại khu đại học Nam Cao và khu Trung tâm y tế chất lượng cao Hà Nam, Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương, giao các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Y tế, Giáo dục và Đào tạo theo chức năng nhiệm vụ được giao, chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xem xét, xử lý theo quy định; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Về quy hoạch đầu tư hạ tầng một số khu đô thị, khu dân cư dọc các tuyến ĐT 495B, đường nối 2 cao tốc, đường Phủ Lý - Mỹ Lộc (tạo nguồn lực từ quỹ đất để thanh toán khối lượng hoàn thành các dự án ĐT 495B, Nhà thi đấu đa năng, khu đại học Nam Cao, khu Trung tâm y tế chất lượng cao..), Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam thực hiện theo quy định hiện hành, bảo đảm phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 1226/QĐ-TTg ngày 22/7/2011), đồng bộ theo Quy hoạch xây dựng, Quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt, bảo đảm tuân thủ hành lang an toàn đường bộ và thỏa thuận đấu nối phù hợp với các tuyến cao tốc, quốc lộ của cơ quan có thầm quyền trước khi triển khai; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Về bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2016 - 2020 cho một số dự án, Thủ tướng Chính phủ  đồng ý chủ trương đối với tuyến đường Ba Sao (Hà Nam) - Bái Đính (Ninh Bình); Tỉnh rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư các dự án Nạo vét sông Đáy và Đường 495B. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, cơ quan liên quan rà soát, tổng hợp dự kiến danh mục dự án đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2017 - 2020; báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trước khi trình Quốc hội khi có chủ trương đầu tư nguồn trái phiếu Chính phủ.

Nghệ An đẩy mạnh chuyển dịch kinh tế


Tại thông báo 277/TB-VPCP, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tỉnh Nghệ An đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương.

Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có vị trí địa lý chiến lược hết sức quan trọng của đất nước, gắn với trục Bắc - Nam và định hướng phát triển hành lang kinh tế Đông - Tây. Những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kinh tế phát triển khá toàn diện, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) 3 năm 2014 - 2016 tăng bình quân 7,59%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của 3 năm 2011 - 2013 là 5,54%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Lĩnh vực nông nghiệp cao được chú trọng đầu tư phát triển, từng bước hình thành các vùng nguyên liêu tập trung gắn với chế biến, thu hút được một số lượng lớn các dự án về nông nghiệp, chăn nuôi công nghệ cao đầu tư trên địa bàn tỉnh...

Tuy vậy, qua 3 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị, lĩnh vực nông nghiệp đã có bước phát triển nhưng chưa thật sự vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chất lượng tăng trưởng thấp; chưa thu hút được nhiều dự án lớn đầu tư trên địa bàn tỉnh. Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chưa đạt kế hoạch đề ra, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, nhất là đối với đồng bào dân tộc ở các huyện miền núi Tây Nghệ An...

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2016 và những năm tiếp theo, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Nghệ An cần tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/7/2013 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; tập trung hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2016 theo Nghị quyết số 1/NQ-CP ngày 7/1/2016 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016; chỉ đạo quyết liệt thực hiện Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sống trong lành cho nhân dân.

Cùng với đó, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương; chú trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái ứng dụng công nghệ cao; xã hội hóa mạnh mẽ công tác đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để cung ứng cho phát triển của địa phương, của vùng và xuất khẩu lao động ra nước ngoài; tăng cường công tác thu ngân sách trên địa bàn, từng bước cân đối thu chi của tỉnh, phấn đấu có đóng góp cho ngân sách Trung ương.

Đồng thời, tập trung nguồn lực đầu tư của ngân sách nhà nước, cũng như các nguồn đầu tư, xã hội hóa để xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của vùng Bắc Trung Bộ; nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng và hoạt động của hệ thống chính trị; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước.

Kiện toàn BCĐ Quốc gia về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Theo Quyết định, ông Lê Chiêm, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, tham gia Phó Trưởng ban Thường trực, thay ông Nguyễn Thành Cung.  
 
Ông Huỳnh Văn Tí, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tham gia Phó Trưởng ban, thay ông Doãn Mậu Diệp.

Ông Đỗ Căn, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tham gia Ủy viên Thường trực, thay ông Mai Quang Phấn.  

Ông Nguyễn Văn Thành, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an, tham gia Ủy viên, thay ông Bùi Quang Bền.

Ông Nguyễn Thành Hưng, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, tham gia Ủy viên, thay ông Trương Minh Tuấn.

Ông Huỳnh Quang Hải, Thứ trưởng Bộ Tài chính, tham gia Ủy viên, thay ông Trương Chí Trung.

Ông Trần Quốc Dũng, Đại tá, Cục trưởng Cục Chính sách, tham gia Ủy viên, thay ông Trần Văn Minh.

Ban Chỉ đạo Quốc gia về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ là tổ chức giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 1237/QĐ-TTg ngày 27/7/2013. Cụ thể, chỉ đạo, điều hành sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; tham mưu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, giải quyết những vướng mắc phát sinh và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Đề án; đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

Cử thành viên tham gia BCĐ phòng, chống rửa tiền

Thủ tướng Chính phủ vừa Quyết định cử thành viên tham gia Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền do Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Phó Trưởng ban Ban Chỉ  đạo gồm: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng (Phó Trưởng ban thường trực); Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương.

13 Ủy viên gồm: Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Bùi Mạnh Cường; Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Sơn; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Sỹ Hiệp; Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đào Quang Thu; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh; Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Phạm Hồng Hải; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng; Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Văn Hiếu; Thứ trưởng Bộ Xây dựng Đỗ Đức Duy; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh; Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải.

Theo Quyết định 470/QĐ-TTg ngày 13/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền, Ban Chỉ  đạo có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xây dựng chiến lược, chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch, cơ chế và giải pháp trong công tác phòng, chống rửa tiền; chỉ đạo việc triển khai thực hiện nghĩa vụ thành viên của Việt Nam trong Nhóm châu Á-Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG) và kế hoạch tiến tới thực hiện đầy đủ 40+9 Khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF); phối hợp với các lực lượng nòng cốt trong công tác chống khủng bố nhằm nghiên cứu, đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách pháp luật, chương trình, biện pháp chống tài trợ cho khủng bố trên lãnh thổ Việt Nam.

Ban Chỉ đạo giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, ban hành chủ trương, chính sách về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền phù hợp từng thời kỳ.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo. Trưởng Ban Chỉ đạo ủy quyền cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thành lập và điều hành Tổ thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo.

Huy động nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng ĐBSCL

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ tại Hội nghị về huy động nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống dịch vụ logistics Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2016 - 2020.

Trong những năm qua, nhiều công trình giao thông trọng yếu đã được đầu tư hoàn thành, trong đó có những công trình rất lớn như: Cầu Cần Thơ, cầu Hàm Luông, cầu Rạch Miễu, cầu Cổ Chiên, cầu Năm Căn, cầu Đầm Cùng, cầu Mỹ Lợi... đã xóa bỏ thế ngăn sông cách trở không chỉ của từng địa phương mà còn của cả Vùng ĐBSCL; cùng với đó là hoàn thành xây dựng Cảng hàng không Quốc tế Cần Thơ, Phú Quốc đã thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh trong Vùng với cả nước và thế giới...

Tuy nhiên, đến nay hệ thống kết cầu hạ tầng giao thông và hệ thống dịch vụ logistics vẫn còn kém phát triển, vấn đề liên kết vùng chưa được chú trọng đầu tư, các trục giao thông chính nhằm gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, là nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong Vùng.

Với 4 phương thức vận tải chủ yếu đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, hàng không đã và đang đảm nhận vai trò tích cực cho sự phát triển chung của Vùng; nhưng việc đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông chưa thỏa đáng, chưa quan tâm đầu tư phát triển lĩnh vực đường thủy nội địa được coi là thế mạnh của Vùng, dẫn đến tình trạng thị phần đảm nhận của đường thủy nội địa có xu hướng giảm.

Do vậy, việc xây dựng kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và hệ thống dịch vụ logistics Vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020 nhằm cụ thể hóa các Chiến lược, Quy hoạch và lựa chọn được các dự án trọng điểm có tính kết nối vùng, liên vùng là rất cần thiết nhằm giảm thiểu tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí trong bối cảnh vốn đầu tư công ngày càng hạn hẹp.

Phát triển 4 phương thức vận tải chủ yếu

Đối với kế hoạch phát triển đường bộ, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu hoàn thiện 6 tuyến trên trục dọc qua Vùng ĐBSCL (tuyến N1, N2, Quốc lộ 1, Quốc lộ 60, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau, hành lang ven biển phía Nam), tập trung nâng cấp hoàn thiện Quốc lộ 60 qua các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh. Sớm hoàn thiện cầu Đại Ngãi trên Quốc lộ 60 để thúc đẩy phát triển các tỉnh duyên hải của Vùng là các tỉnh khó khăn nhất hiện nay. Hoàn thành việc đầu tư nâng cấp 9 tuyến trên các trục ngang gồm các Quốc lộ: 30, 53, 54, 57, 61, 62, 63, 80, 91 theo quy hoạch, đạt tiêu chuẩn cấp III, quy mô 2 làn xe và xây dựng tuyến tránh thành phố Long Xuyên (An Giang). Đối với tuyến N1 (trùng với tuyến hành lang biên giới có vai trò đảm bảo an ninh quốc phòng) đầu tư với quy mô 2 làn xe. Ưu tiên đầu tư các tuyến kết nối đến các cửa khẩu quốc tế với Campuchia như Quốc lộ 91C, Quốc lộ 30.

Đảm bảo 100% đường đến trung tâm xã, cụm xã; tỷ lệ cứng hóa mặt đường đạt 100%; xóa bỏ cầu khỉ; tiếp tục đầu tư một số công trình quan trọng, cấp bách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Về phát triển đường thủy nội địa, Phó Thủ tướng yêu cầu phát huy hiệu quả của dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông ĐBSCL (WB5), tổ chức quản lý, khai thác đảm bảo duy trì thường xuyên đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo an toàn giao thông. Tiếp tục nâng cấp các tuyến vận tải đường thủy hiện có để đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Đẩy mạnh vận tải đa phương thức, trong đó tập trung khai thác triệt để thế mạnh vận tải thủy. Rà soát và từng bước xử lý các cầu có tĩnh không thấp ảnh hưởng đến hoạt động vận tải thủy nội địa trên các tuyến sông, kênh chính trong Vùng.

Về đường biển, Phó Thủ tướng yêu cầu hoàn thành dự án luồng cho tầu trọng tải lớn vào sông Hậu; nâng cấp cụm cảng Cái Cui thành cảng tổng hợp quốc gia, xây dựng cảng chuyên dùng nhập than cho nhà máy nhiệt điện khu vực phía Đông và phía Tây của Vùng; tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống cảng và luồng tàu một cách đồng bộ, đáp ứng nhu cầu vận tải của Vùng và phù hợp với quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển đã được phê duyệt.

Đối với hàng không, Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải rà soát và thực hiện việc đầu tư nâng cấp để nâng cao năng lực và chất lượng phục vụ vận chuyển hành khách, bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của Dự án theo quy hoạch được duyệt, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng hành khách, hàng hóa tại Cảng hàng không Quốc tế Cần Thơ, Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc, Cảng hàng không Rạch Giá, Cảng hàng không Cà Mau, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Về dịch vụ logistics, Phó Thủ tướng yêu cầu đẩy mạnh việc phát triển các đầu mối vận tải phục vụ dịch vụ logistisc phù hợp với quy hoạch phát triển đã được phê duyệt, tăng cường kết nối các phương thức vận tải. Chú trọng nâng cao năng lực vận tải trên các trục vận tải, đặc biệt là tuyến vận tải thủy trên sông Tiền, sông Hậu trong giao thương với Campuchia.

Phó Thủ tướng giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địa phương liên quan rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên các dự án và tổng hợp vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 của ngành Giao thông vận tải nói chung và các địa phương Vùng ĐBSCL nói riêng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; tổ chức rà soát, hoàn thiện các quy hoạch phát triển cảng biển, dịch vụ logistics trong lĩnh vực Giao thông vận tải, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các địa phương trong Vùng xem xét, cân đối vốn cho các dự án trong kế hoạch đầu tư trung hạn và phương án huy động các nguồn vốn khác để đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng giao thông Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Phó Thủ tướng yêu cầu các cơ quan, địa phương trong Vùng phối hợp với các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giao thông vận tải quan tâm hơn nữa đến công tác quy hoạch, rà soát, sắp xếp các dự án theo thứ tự ưu tiên và tổng hợp vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 để có lộ trình thực hiện phù hợp với quy định và yêu cầu thực tế.

Phát triển hệ thống sản xuất, phân phối thép hiện đại

Xây dựng, phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối thép theo hướng hiện đại, bảo đảm phát triển ổn định và bền vững; giảm dần sự mất cân đối giữa sản phẩm thép dài với sản phẩm thép dẹt, giữa sản xuất và lưu thông phân phối.

Đó là chỉ đạo tại Thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tình hình triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối thép giai đoạn đến 2020, có xét đến năm 2025.

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, thời gian tới đánh giá lại cung cầu thép ở Việt Nam trên cơ sở đánh giá cung cầu thép thế giới, khu vực để điều chỉnh và đề xuất các giải pháp Quy hoạch tổng thể cho giai đoạn đến 2025, tầm nhìn đến 2035; đồng thời, xây dựng kế hoạch triển khai Quy hoạch phù hợp với điều kiện cụ thể.

Đồng thời phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối thép phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Bên cạnh đó xây dựng hệ thống sản xuất thép với công nghệ tiên tiến, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên, năng lượng của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái tại các khu vực sản xuất và kinh doanh thép. Từng bước loại bỏ các cơ sở sản xuất nhỏ với công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên liệu, năng lượng và ô nhiễm môi trường.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất gang, phôi thép, thép thành phẩm, sản xuất thiết bị luyện, cán thép đạt tiêu chuẩn quốc tế. Có chính sách ưu đãi đầu tư đối với các dự án sản xuất gang, thép hợp kim, thép chất lượng cao từ quặng sắt với quy mô lớn. Hạn chế đầu tư sản xuất các sản phẩm trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng.

Dự báo trong thời gian tới, nhu cầu thép cho nền kinh tế ngày càng tăng cao, đặc biệt trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ. Để ngành thép đáp ứng tốt nhu cầu phát triển, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương khẩn trương rà soát Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối thép giai đoạn đến năm 2020, có xét đến năm 2025 để điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đóng cửa nhà máy không đáp ứng quy chuẩn môi trường

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì cùng các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Xây dựng và các cơ quan liên quan đề xuất cơ chế chính sách để phát triển ngành công nghiệp thép nói chung; đồng thời lựa chọn các công nghệ, chủng loại sản phẩm cần ưu tiên phát triển để có cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và UBND các tỉnh, thành phố kiểm tra việc tuân thủ các yêu cầu về môi trường ở các nhà máy thép. Xử lý nghiêm, kể cả việc dừng hoạt động hoặc đóng cửa các nhà máy không đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát lại các chính sách thuế về xuất, nhập khẩu để thúc đẩy phát triển ngành thép. Sớm nghiên cứu việc giảm thuế xuất khẩu đối với xỉ luyện thép để tạo điều kiện tiêu thụ phế thải này, giảm tác động đến môi trường, đồng thời tăng thêm nguồn thu ngoại tệ.

Các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm Quy hoạch ngành thép, chấp hành các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường trong công tác cấp phép đầu tư và giám sát hoạt động của các dự án sản xuất thép theo quy định.

Trong những năm qua, ngành thép Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng: năng lực sản xuất ngày càng tăng, sử dụng công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu về môi trường; tốc độ tăng trưởng sản lượng thép của các năm 2014-2015 đạt 19,8%-21,8%. Năm 2015 Việt Nam đã trở thành nước tiêu thụ nhiều thép nhất trong các nước Đông Nam Á. Hệ thống sản xuất và phân phối đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu thép xây dựng cả nước (khoảng 6 triệu tấn thép xây dựng trong tổng cầu khoảng 20 triệu tấn thép). Một số doanh nghiệp trong nước đã vươn lên trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, đầu tư chiều sâu và đầu tư mới một số cơ sở sản xuất phôi thép, nhờ đó tăng năng lực sản xuất phôi thép cả nước, tạo ra cơ sở quan trọng để ngành thép Việt Nam phát triển.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển ngành thép còn nhiều hạn chế cần tập trung giải quyết như chất lượng quy hoạch chưa cao, các dự án còn manh mún, chưa có tính hệ thống, chưa gắn với nhu cầu đa dạng của nền kinh tế. Công tác xây dựng kế hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch chưa được triển khai quyết liệt, chưa cân đối được các nguồn lực để thực hiện dẫn đến việc thực hiện theo quy hoạch không hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế./.