(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP quy định về đối tượng chịu phí, các trường hợp miễn phí, người nộp phí, mức thu, kê khai, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Đối tượng chịu phí

Nghị định quy định đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt, trừ một số trường hợp được miễn phí.

Nghị định nêu rõ nước thải công nghiệp là nước thải từ: Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung; cơ sở nuôi trồng thuỷ sản; cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở thuộc da, tái chế da; cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; cơ sở dệt, nhuộm, may mặc; cơ sở sản xuất giấy, bột giấy, nhựa, cao su; cơ sở sản xuất phân bón, hoá chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; cơ sở cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng; cơ sở sản xuất linh kiện, thiết bị điện, điện tử; cơ sở sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu; nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp; cơ sở sản xuất khác.

Nước thải sinh hoạt là nước thải từ: hộ gia đình; cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân (trừ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc các đơn vị vũ trang nhân dân); trụ sở điều hành, chi nhánh, văn phòng của các tổ chức, cá nhân không gắn liền với địa điểm sản xuất, chế biến; cơ sở rửa ô tô, rửa xe máy, sửa chữa ô tô, sửa chữa xe máy; bệnh viện; phòng khám chữa bệnh; nhà hàng, khách sạn; cơ sở đào tạo, nghiên cứu; cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác; các tổ chức, cá nhân và đối tượng khác có nước thải không được quy định là nước thải công nghiệp.

Mức phí

Nghị định quy định rõ mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt là 10% trên giá bán của 1 m3 nước sạch chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp cần thiết áp dụng mức thu cao hơn, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định mức cụ thể phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Đối với nước thải sinh hoạt thải ra từ các tổ chức, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng (trừ hộ gia đình thuộc trường hợp được miễn phí) thì mức phí được xác định theo từng người sử dụng nước căn cứ vào số lượng nước sử dụng bình quân của một người trong xã, phường, thị trấn nơi khai thác và giá bán 1 m3 nước sạch trung bình tại xã, phường, thị trấn.

Mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được tính như sau: F = f + C

Trong đó: F là số phí phải nộp; f là mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm; C là phí biến đổi, tính theo: Tổng lượng nước thải ra; hàm lượng thông số ô nhiễm và mức thu đối với mỗi chất theo Biểu dưới đây:

Số TT

Thông số ô nhiễm tính phí

Mức phí (đồng/kg)

1

Nhu cầu ô xy hóa học (COD)

2.000

2

Chất rắn lơ lửng (TSS)

2.400

3

Thuỷ ngân (Hg)

20.000.000

4

Chì (Pb)

1.000.000

5

Arsenic (As)

2.000.000

6

Cadmium (Cd)

2.000.000


Cơ sở sản xuất, chế biến có tổng lượng nước thải dưới 20 m3/ngày đêm, không áp dụng mức phí biến đổi.

Số phí phải nộp

Nghị định quy định số phí bảo vệ môi trường phải nộp đối với nước thải sinh hoạt được xác định như sau:

Số phí phải nộp (đồng)

=

Số lượng nước sạch sử dụng (m3)

x

Giá bán nước sạch (đồng/m3)

x

Mức thu phí 

Số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp được xác định như sau:

- Số phí cố định phải nộp là 1.500.000 đồng/năm;

- Số phí biến đổi (C) theo quy định ở trên được tính cho từng chất gây ô nhiễm theo công thức sau:

 

Số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp phải nộp (đồng)

=

 

Tổng lượng nước thải thải ra (m3)

x

 

Hàm lượng chất gây ô nhiễm có trong nước thải (mg/l)

x

10-3

x

Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp của chất gây ô nhiễm thải ra môi trường (đồng/kg)


- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 20 m3/ngày đêm, số phí cố định (f) phải nộp là: 1.500.000 đồng/năm;

- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí từ 20 m3/ngày đêm trở lên, số phí phải nộp hàng quý được tính theo công thức sau: Fq = (f/4) + Cq     

Trong đó: Fq là số phí phải nộp trong quý (đồng); f = 1.500.000 đồng; Cq là số phí biến đổi phải nộp trong quý.

Các trường hợp được miễn phí

Nghị định cũng quy định các trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải gồm: 1- Nước xả ra từ các nhà máy thủy điện, nước tuần hoàn trong các cơ sở sản xuất, chế biến mà không thải ra môi trường dưới bất kỳ hình thức nào (chất rắn, chất lỏng, chất khí); 2- Nước biển dùng vào sản xuất muối xả ra; 3- Nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở địa bàn đang được Nhà nước thực hiện chế độ bù giá để có giá nước phù hợp với đời sống kinh tế - xã hội; 4- Nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở các xã thuộc vùng nông thôn và những nơi chưa có hệ thống cấp nước sạch; 5- Nước làm mát thiết bị, máy móc không trực tiếp tiếp xúc với các chất gây ô nhiễm, có đường thoát riêng; 6- Nước mưa tự nhiên chảy tràn (trừ diện tích thuộc khu vực nhà máy hóa chất); 7- Nước thải từ các phương tiện đánh bắt thủy, hải sản của ngư dân; 8- Nước thải sinh hoạt tập trung do đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nước tiếp nhận và đã xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định xả thải ra môi trường.

Cơ quan thu phí

Nghị định quy định rõ Sở Tài nguyên và Môi trường thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp. Căn cứ vào yêu cầu thu phí của mỗi địa phương và khả năng quản lý của cơ quan tài nguyên môi trường cấp huyện, Sở Tài nguyên và Môi trường có thể báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để phân cấp cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện thực hiện việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn.

Đơn vị cung cấp nước sạch thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân sử dụng nước sạch.

Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tự khai thác nước để sử dụng.

Hỗ trợ Bình Định hơn 1.100 tấn gạo

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính xuất cấp (không thu tiền) 1.107,96 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Bình Định để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân do hạn hán mất mùa năm 2016.

UBND tỉnh Bình Định tiếp nhận và sử dụng số gạo được cấp nêu trên để hỗ trợ kịp thời, đúng đối tượng theo quy định.

Trường hợp sau khi thực hiện vẫn còn khó khăn, địa phương báo cáo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, tiếp tục hỗ trợ.
Đẩy nhanh hơn nữa công tác bồi thường thiệt hại sự cố môi trường biển

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về các giải pháp ổn định đời sống và sản xuất, kinh doanh cho nhân dân 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường.

Thông báo kết luận nêu rõ, mặc dù bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khách quan như bão, lũ xảy ra, tính chất công việc phức tạp, khối lượng lớn, nhưng trong thời gian qua, các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan đã tích cực, chủ động triển khai các nhiệm vụ được giao và đã đạt được nhiều kết quả tốt. Đến nay, một số tỉnh đã bước đầu tiến hành chi trả tiền bồi thường thiệt hại cho người dân bị ảnh hưởng bởi sự cố.

Để bảo đảm trong thời gian tới công tác bồi thường thiệt hại được đẩy nhanh hơn nữa, đảm bảo chắc chắn, công khai, minh bạch, phấn đấu hoàn thành trong năm 2016, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan tập trung triển khai các nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ đã giao tại các văn bản liên quan, đặc biệt là các nhiệm vụ giao tại Thông báo số 359/TB-VPCP ngày 04/10/2016.

Về xây dựng bổ sung định mức cho các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Quyết định số 1880/QĐ-TTg, Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trước ngày 20/11/2016 có văn bản hướng dẫn cụ thể cho các địa phương việc xác định, thống kê, kê khai thiệt hại đối với những đối tượng này.

Căn cứ hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân 04 tỉnh khẩn trương tiến hành thống kê thiệt hại của các đối tượng, gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính theo quy định.

Trên cơ sở số liệu báo cáo của các địa phương, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương xây dựng bổ sung định mức bồi thường và xác định tổng mức thiệt hại và kinh phí bồi thường, hỗ trợ cho từng tỉnh, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Hỗ trợ giải quyết ngay lượng hàng hải sản tồn kho

Về giải quyết ngay lượng hàng hải sản tồn kho, đối với các lô hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm, Phó Thủ tướng đồng ý nguyên tắc hỗ trợ 100% giá trị lô hàng, 100% tiền điện, 100% lãi suất, chi phí tiêu hủy. UBND 4 tỉnh tiến hành tiêu hủy ngay các lô hàng này, công khai kết quả, bảo đảm hoàn thành trong tháng 11/2016. Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn các địa phương công tác tiêu hủy.

Đối với các lô hàng đảm bảo an toàn thực phẩm, Phó Thủ tướng đồng ý nguyên tắc mua, tạm trữ được hỗ trợ 30% giá trị lô hàng, hỗ trợ 100% tiền điện, 100% lãi suất. Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo giải quyết, tiêu thụ những lô hàng này.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với UBND các địa phương xác định giá để làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ đối với các trường hợp nêu trên, hoàn thành trong tháng 11/2016.

UBND các tỉnh xác định số lượng hàng được thu mua, tạm trữ trên địa bàn hiện đang tồn kho theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tiến hành kiểm tra, giám sát việc bảo quản, đảm bảo chất lượng của các lô hàng tại các kho cho đến khi được tiêu thụ.

Tiếp tục tuyên truyền rộng rãi việc môi trường biển đã an toàn

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục tuyên truyền rộng rãi về việc môi trường biển đã an toàn, hải sản khai thác tầng giữa, tầng mặt đã đảm bảo an toàn thực phẩm.

Bộ Y tế tiếp tục lấy mẫu, xét nghiệm hải sản khai thác ở tầng đáy trong vùng biển dưới 20 hải lý, xem xét công bố kết quả vào cuối tháng 12/2016.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành và nhất là UBND các tỉnh liên quan, các cơ quan báo chí, thông tin đại chúng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin đến người dân, giải thích rõ để người dân hiểu các chính sách, các quy định của nhà nước về việc này, tiến tới đồng tình và ủng hộ thực hiện đúng các chính sách, quy định.

Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương lãnh đạo các cơ báo chí, truyền thông có kế hoạch tăng cường đưa tin về các chính sách, các quy định của Chính phủ, kết quả chỉ đạo, triển khai thực hiện của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương, định hướng cho người dân trước những thông tin sai lệch. Công tác truyền thông cần gắn với công tác dân vận dựa trên các nguyên tắc: đảm bảo công khai minh bạch ở cơ sở, đảm bảo người dân được thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, có cơ sở, an ninh trật tự được đảm bảo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo.

Trước mắt áp dụng chính sách giảm nghèo theo tiêu chí thu nhập


Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.

Phó Thủ tướng giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các địa phương xác định: số hộ nghèo theo thu nhập; phân loại theo nhóm hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; công bố kết quả trước 30/11/2016 để làm căn cứ thực hiện.

Trước mắt áp dụng chính sách giảm nghèo đối với hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập. Giao Bộ Tài chính bố trí kinh phí thực hiện chính sách giảm nghèo trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm.

Đối với hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Phó Thủ tướng giao Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phương thức hỗ trợ theo hướng bảo đảm người dân tiếp cận được dịch vụ xã hội cơ bản bị thiếu hụt.

Nguồn kinh phí thực hiện chính sách được lồng ghép từ ngân sách nhà nước phát triển kinh tế-xã hội và 21 chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020. Các Bộ khi phân bổ kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu chủ động bố trí kinh phí để giải quyết thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Về thời điểm áp dụng chính sách mới, chính sách sửa đổi, bổ sung: Tính từ ngày văn bản ký ban hành hoặc văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành.

Bảo đảm quyền cho con của phụ nữ Việt kết hôn với người nước ngoài về cư trú tại Việt Nam

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản 9858/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về tình hình trẻ em là con của phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trở về sinh sống tại Việt Nam.

Cụ thể, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm các nhiệm vụ được giao trong Thông báo số 133/TB-VPCP ngày 06/6/2011 tại Hội nghị toàn quốc về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ: Lao động-Thương binh và Xã hội, Công an, Ngoại giao và các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá giải quyết các vấn đề về quốc tịch, hộ tịch bảo đảm thực hiện quyền đối với trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tư pháp, Công an, Ngoại giao, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan liên quan nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng thể thực thi chính sách đối với trẻ em là con của phụ nữ kết hôn với người nước ngoài trở về Việt Nam sinh sống bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật về trẻ em; bảo đảm quyền được sinh sống, học tập, khám chữa bệnh đối với trẻ em.

Đồng thời phối hợp với Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam tổ chức các biện pháp hỗ trợ tạo công ăn việc làm ổn định cho những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài trở về sinh sống ở Việt Nam.

Hoàn thiện quy trình xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Trưởng Ban Chỉ đạo cấp Nhà nước về xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Nhằm phấn đấu đạt kết quả cao nhất các nhiệm vụ của Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 14/01/2013; tri ân, tôn vinh người có công với cách mạng và hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017), Phó Thủ tướng giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng hoàn thiện, trình ban hành Quy trình xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin trong tháng 01/2017; tổ chức tập huấn cho các địa phương và các đội tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ trong phạm vi cả nước.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, đôn đốc các cơ quan tăng cường phối hợp về quy trình, cách làm để triển khai thực hiện Đề án; tập trung nguồn lực vào các nhiệm vụ trọng tâm, khu vực trọng điểm, xác định rõ nhiệm vụ để tập trung kinh phí cho công tác xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Đồng thời đưa các nhiệm vụ xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin là một trong những nội dung của dự thảo Chỉ thị của Ban Bí thư về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác người có công với cách mạng; hoàn thiện Trung tâm lưu trữ cơ sở dữ liệu ADN thuộc Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin trong năm 2017.

Bên cạnh đó cung cấp, chia sẻ thông tin của cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ còn thiếu thông tin, thông tin về mộ và nghĩa trang liệt sĩ với Bộ Quốc phòng để hoàn thiện việc giải mã phiên hiệu, ký hiệu đơn vị, cung cấp thông tin nơi hy sinh của liệt sĩ do Bộ Quốc phòng quản lý.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam giao Bộ Quốc phòng chủ trì hoàn thiện việc giải mã phiên hiệu, ký hiệu đơn vị. Chia sẻ thông tin đầy đủ về giải mã phiên hiệu, ký hiệu đơn vị, nơi hy sinh của liệt sĩ; cung cấp hồ sơ liên quan khi quy tập và bàn giao hài cốt liệt sĩ cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; chỉ đạo Viện pháp y quân đội hoàn thiện việc đầu tư nâng cấp cơ sở giám định gien theo quy định.  

Bộ Công an, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ đầu tư, nâng cấp các cơ sở giám định gen để các cơ sở này sớm đi vào hoạt động hiệu quả.

Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục chỉ đạo các cơ quan truyền thông thực hiện tốt công tác tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp với đặc điểm của từng vùng, miền; nâng cao hiệu quả công tác thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và những thông tin khác phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Bộ Thông tin và Truyền thông làm đầu mối phát động phong trào ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp thông tin, cơ sở dữ liệu về hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin hướng tới kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017).

Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm tuyên truyền, chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện công tác xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin trên địa bàn.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam chủ động cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ cho Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội để tìm kiếm, quy tập và xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin./.