(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 18/7/2017.
Chức năng và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 79/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Theo quy định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể do Chính phủ quy định tại Nghị định này.

Trong đó, về lĩnh vực di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ cấp, thu hồi giấy phép về biểu diễn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu theo quy định của pháp luật...

Về điện ảnh, Bộ có nhiệm vụ tổ chức liên hoan phim quốc gia và quốc tế tại Việt Nam; chấp thuận tổ chức liên hoan phim chuyên ngành, chuyên đề, những ngày phim nước ngoài tại Việt Nam và những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài; quản lý việc lưu chiểu, lưu trữ phim và các tư liệu, hình ảnh động được sản xuất trong nước; lưu chiểu, lưu trữ phim nước ngoài được phổ biến, phát hành tại Việt Nam; cấp, thu hồi giấy phép trong lĩnh vực điện ảnh theo quy định của pháp luật...

Về quyền tác giả, quyền liên quan, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ hướng dẫn việc cung cấp, hợp tác, đặt hàng, sử dụng và bảo đảm quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; quản lý, khai thác các quyền tác giả đối với tác phẩm, quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về sở hữu Nhà nước; quản lý hoạt động cấp, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan; quản lý hoạt động giám định về quyền tác giả, quyền liên quan; hoạt động đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan...

Cơ cấu tổ chức

Theo Nghị định, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có 26 đơn vị: Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch, Tài chính; Vụ Pháp chế; Vụ Đào tạo; Vụ Thi đua, Khen thưởng; Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Vụ Thư viện; Vụ Văn hóa dân tộc; Vụ Gia đình; Văn phòng Bộ; Thanh tra Bộ; Cục Di sản văn hóa; Cục Nghệ thuật biểu diễn; Cục Điện ảnh; Cục Bản quyền tác giả; Cục Văn hóa cơ sở; Cục Hợp tác quốc tế; Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Tổng cục Thể dục thể thao; Tổng cục Du lịch; Ban Quản lý Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam; Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam; Báo Văn hóa; Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch.

Bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 80/2017/NĐ-CP quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường.

Trong đó, để bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, cơ sở giáo dục cần bảo đảm an ninh trật tự; an toàn vệ sinh thực phẩm; an toàn phòng, chống tai nạn, thương tích; an toàn, phòng, chống cháy, nổ; an toàn phòng, chống thảm họa, thiên tai; xây dựng, công khai và thực hiện nghiêm túc bộ quy tắc ứng xử văn hóa trong cơ sở giáo dục có sự tham gia của người học.

Bên cạnh đó, thiết lập kênh thông tin như hộp thư góp ý, đường dây nóng và các hình thức khác để tiếp nhận, xử lý các thông tin của người học; bảo mật cho người cung cấp thông tin; tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động giáo dục kỹ năng sống, hoạt động ngoài giờ chính khóa, hoạt động xã hội, từ thiện vì cộng đồng, hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao an toàn, lành mạnh, thân thiện, bình đẳng, phù hợp với độ tuổi, đặc điểm sinh lý, tâm lý của người học.

Đồng thời, thực hiện công tác y tế trường học, công tác tư vấn, công tác trợ giúp người học; thường xuyên trao đổi thông tin với gia đình người học và cộng đồng trong việc bảo đảm an toàn tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và bí mật đời sống riêng tư của người học.

Phòng, chống bạo lực học đường

Nghị định quy định rõ biện pháp phòng ngừa bạo lực học đường. Cụ thể, tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người học, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong cơ sở giáo dục, gia đình người học và cộng đồng về mối nguy hiểm và hậu quả của bạo lực học đường; về trách nhiệm phát hiện, thông báo, tố giác hành vi bạo lực học đường; ngăn ngừa và can thiệp kịp thời đối với các hành vi bạo lực học đường phù hợp với khả năng của bản thân.

Giáo dục, trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng, chống xâm hại người học; phòng, chống bạo lực học đường; bạo lực trẻ em trên môi trường mạng cho người học, cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân viên của cơ sở giáo dục và gia đình người học; giáo dục, tư vấn kiến thức, kỹ năng tự bảo vệ cho người học; công khai kế hoạch phòng, chống bạo lực học đường và các kênh tiếp nhận thông tin, tố giác về bạo lực học đường; tổ chức kiểm tra, giám sát, thu thập và xử lý thông tin liên quan đến bạo lực học đường; thực hiện các phương pháp giáo dục tích cực, không bạo lực đối với người học.

Biện pháp hỗ trợ người học có nguy cơ bị bạo lực học đường gồm: Phát hiện kịp thời người học có hành vi gây gổ, có nguy cơ gây bạo lực học đường, người học có nguy cơ bị bạo lực học đường; đánh giá mức độ nguy cơ, hình thức bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn, hỗ trợ cụ thể; thực hiện tham vấn, tư vấn cho người học có nguy cơ bị bạo lực và gây ra bạo lực nhằm ngăn chặn, loại bỏ nguy cơ xảy ra bạo lực.

Khi xảy ra bạo lực học đường cần đánh giá sơ bộ về mức độ tổn hại của người học, đưa ra nhận định về tình trạng hiện thời của người học; thực hiện ngay các biện pháp trợ giúp, chăm sóc y tế, tư vấn đối với người học bị bạo lực; theo dõi, đánh giá sự an toàn của người bị bạo lực; thông báo kịp thời với gia đình người học để phối hợp xử lý; trường hợp vụ việc vượt quá khả năng giải quyết của cơ sở giáo dục thì thông báo kịp thời với cơ quan công an, UBND xã, phường, thị trấn và các cơ quan liên quan để phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật.

Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 81/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng.

Theo đó, Bộ Xây dựng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật; nhà ở; công sở; thị trường bất động sản; vật liệu xây dựng; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.

Bộ Xây dựng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.

Trong đó, về quy hoạch xây dựng, kiến trúc, Bộ Xây dựng tổ chức lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng chức năng đặc thù có ý nghĩa quốc gia, vùng dọc tuyến đường cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh; quy hoạch chung đô thị mới có phạm vi quy hoạch liên quan đến địa giới hành chính của hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên; quy hoạch chung đô thị mới có quy mô dân số dự báo tương đương với đô thị loại III trở lên và các quy hoạch khác do Thủ tướng Chính phủ giao; hướng dẫn thực hiện quy hoạch sau khi được phê duyệt.

Bên cạnh đó, thẩm định các đồ án quy hoạch xây dựng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; có ý kiến thống nhất bằng văn bản để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt các quy hoạch xây dựng cụ thể theo quy định của pháp luật.

Ban hành quy chuẩn quy hoạch xây dựng, định mức, đơn giá, phương pháp lập và quản lý chi phí trong việc lập, thẩm định và tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, thiết kế đô thị.

Về nhà ở, xây dựng chiến lược phát triển nhà ở quốc gia cho từng thời kỳ, chỉ tiêu phát triển nhà ở và kế hoạch phát triển nhà ở trong nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước hàng năm và theo từng giai đoạn; chỉ đạo việc thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Hướng dẫn UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương, chỉ tiêu phát triển nhà ở và kế hoạch phát triển nhà ở trong nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương hàng năm và theo từng giai đoạn; cho ý kiến đối với chương trình phát triển nhà ở của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực đầu tư phát triển nhà ở trên phạm vi toàn quốc, các chương trình, đề án, dự án phát triển nhà ở cho từng nhóm đối tượng cụ thể tại các địa bàn trọng điểm và hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện.

Về thị trường bất động sản, xây dựng các chiến lược, chính sách phát triển và quản lý thị trường bất động sản; chỉ đạo việc thực hiện sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh trong việc tổ chức thực hiện và quản lý kinh doanh bất động sản.

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản; phối hợp UBND cấp tỉnh tổ chức kiểm tra, rà soát các dự án kinh doanh bất động sản để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi, đình chỉ, tạm dừng hoặc điều chỉnh, chuyển đổi, chuyển nhượng các dự án kinh doanh bất động sản; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ bất động sản; việc thành lập và tổ chức hoạt động của sàn giao dịch bất động sản;...

Cơ cấu tổ chức

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Xây dựng có 25 đơn vị gồm: 1-Vụ Quy hoạch-Kiến trúc; 2- Vụ Vật liệu xây dựng; 3- Vụ Khoa học công nghệ và môi trường; 4- Vụ Kế hoạch-Tài chính; 5- Vụ Quản lý doanh nghiệp; 6- Vụ Pháp chế; 7- Vụ Hợp tác quốc tế; 8- Vụ Tổ chức cán bộ; 9- Văn phòng; 10- Thanh tra; 11-Cục Kinh tế xây dựng; 12- Cục Quản lý hoạt động xây dựng; 13- Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng; 14- Cục Công tác phía Nam; 15- Cục Phát triển đô thị; 16- Cục Hạ tầng kỹ thuật; 17- Cục Quản lý Nhà và thị trường bất động sản; 18- Viện Kinh tế xây dựng; 19- Viện Khoa học công nghệ xây dựng; 20- Viện Kiến trúc quốc gia; 21- Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia; 22- Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị; 23- Báo Xây dựng; 24- Tạp chí Xây dựng; 25- Trung tâm Thông tin.

Các đơn vị từ 1 đến  17 nêu trên là các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các đơn vị từ 18 đến 25 là các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ.

Tiêu chí chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành tiêu chí, danh mục ngành, lĩnh vực thực hiện chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chuyển thành công ty cổ phần khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí sau:

1- Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi;

2- Thuộc danh mục chuyển thành công ty cổ phần theo quy định;

3- Có phương án tiếp tục cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt.

20 ngành, lĩnh vực chuyển đổi

Quyết định nêu rõ, thực hiện chuyển thành công ty cổ phần, Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc không giữ cổ phần tại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:

1- Khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch;

2- Thoát nước và xử lý nước thải;

3- Vệ sinh môi trường;

4- Chiếu sáng;

5- Sản xuất, lưu giữ giống gốc cây trồng vật nuôi;

6- Dịch vụ tư vấn trong các lĩnh vực (lập quy hoạch đô thị, kế toán, kiểm toán, thuế, thẩm định giá tài sản, nghiên cứu thị trường, thăm dò dư luận xã hội, tư vấn về quản lý và kinh doanh...);

7- Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội;

8- Thông tin thị trường lao động, dịch vụ việc làm, hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

9- Bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa;

10- Quản lý, bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy nội địa;

11- Quản lý, bảo trì bến tàu, bến xe;

12-Kiểm định kỹ thuật phương tiện giao thông cơ giới và phương tiện thủy;

13- Kiểm định xây dựng;

14- Kiểm định kỹ thuật an toàn lao động;

15- Hoạt động đào tạo và sát hạch lái xe;

16- Kinh doanh mặt bằng hội chợ triển lãm, xúc tiến thương mại, đầu tư;

17- Các dịch vụ hỗ trợ, cung cấp thông tin, quảng bá du lịch;

18- Quản lý bất động sản; quản lý chợ, trung tâm thương mại;

19- Kinh doanh nhà khách, nhà nghỉ và dịch vụ lưu trú ngắn ngày và phục vụ hội họp;

20- Phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

Trình Đề án xử lý 12 dự án chậm tiến độ của ngành công thương

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại phiên họp thứ ba Ban Chỉ đạo để triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc xử lý các tồn tại, yếu kém của một số dự án và doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương căn cứ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Thông báo số 43-TB/VPTW ngày 19/6/2017 của Văn phòng Trung ương và ý kiến của các bộ, ngành để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án xử lý 12 dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương trước ngày 25/7/2017.

Hoàn thiện dự thảo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo để triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xử lý 12 dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương, gửi các bộ, ngành có ý kiến tham gia để tổng hợp, trình Trưởng ban Ban Chỉ đạo quyết định; trong đó lưu ý quán triệt các mục tiêu, quan điểm, thời hạn đã được Bộ Chính trị chỉ đạo tại Thông báo 43-TB/VPTW ngày 19/6/2017 của Văn phòng Trung ương, phân công, làm rõ trách nhiệm của từng bộ, cơ quan, đơn vị trong triển khai, thực hiện Kế hoạch; chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện Kế hoạch.

Phó Thủ tướng giao Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ sớm hoàn thành việc kiểm toán, điều tra, thanh tra tại 12 dự án, doanh nghiệp theo chương trình, kế hoạch đã đề ra để xử lý theo quy định.

Các Tập đoàn: Hóa chất Việt Nam, Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty thép Việt Nam củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo của các đơn vị mình; phân công, xác định rõ nhiệm vụ của từng đơn vị, người đứng đầu trong việc xử lý các dự án, doanh nghiệp thuộc đơn vị mình.

Các bộ, cơ quan là thành viên Ban Chỉ đạo chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, xử lý kịp thời vướng mắc, kiến nghị của các dự án, doanh nghiệp, báo cáo Tổ giúp việc Ban Chỉ đạo (Bộ Công Thương) để tổng hợp, báo cáo Trưởng ban Ban Chỉ đạo.

Tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư PPP

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng-Trưởng Ban chỉ đạo về đầu tư theo hình thức đối tác công-tư (PPP).

Thông báo kết luận nêu rõ, mô hình đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT tại Việt Nam đã được triển khai từ 20 năm trước (Nghị định số 77/CP ngày 18/6/1997), đến nay đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, tiếp cận với thông lệ quốc tế về mô hình đầu tư PPP. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai các dự án PPP còn một số vướng mắc như: Chịu tác động của nhiều luật liên quan như Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng...; sự không rõ ràng giữa PPP và khái niệm "xã hội hóa" đầu tư; một số quy định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP chưa phù hợp; khó khăn về nguồn vốn đầu tư...; đặc biệt là năng lực của một số nhà đầu tư còn hạn chế cả về năng lực tài chính và kinh nghiệm.

Do đó, trong thời gian tới cần phải tập trung nghiên cứu, sửa đổi chính sách pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư; thống nhất ý chí huy động các nguồn lực nói chung để phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội của cả nước. Từ những bất cập đã được chỉ ra trong thực tiễn, các bộ, ngành và địa phương cần nghiêm túc chấn chỉnh, đặt lợi ích của Nhà nước và cộng đồng lên hàng đầu, không cho phép tồn tại lợi ích nhóm, tham nhũng, tiêu cực.

Về định hướng sửa đổi các Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và số 30/2015/NĐ-CP, Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương tiếp thu ý kiến các bộ, ngành, địa phương và các thành viên Ban Chỉ đạo để hoàn thiện dự thảo sửa đổi 2 nghị định này, gửi Bộ Tư pháp thẩm định, trình Chính phủ trong tháng 8/2017.

Trong đó lưu ý vấn đề quản lý theo cách tiếp cận đầu ra: Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công bố nhu cầu về công trình, dịch vụ công để các nhà đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách bình đẳng. Nhà đầu tư tự cân đối nguồn lực (bao gồm vốn chủ sở hữu; khả năng huy động vốn tín dụng; mức lãi suất tín dụng trên thị trường; mức lợi nhuận chấp nhận được của nhà đầu tư; lường trước các rủi ro...) để quyết định việc tham gia dự thầu. Nhà đầu tư/doanh nghiệp dự án được thu giá, phí dựa trên chất lượng dịch vụ cung cấp; chịu trách nhiệm về chất lượng công trình, dịch vụ gắn với quyền lợi của mình trong quá trình khai thác, vận hành dự án.

Tăng cường phân cấp; nâng cao trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc triển khai dự án, từ việc quyết định chủ trương đầu tư, cân đối nguồn lực, thẩm định dự án, lựa chọn nhà đầu tư và giám sát tổ chức thực hiện, vận hành công trình theo đúng quy định tại hợp đồng dự án và quy định của pháp luật.

Các bộ, ngành và địa phương phải ưu tiên dành nguồn lực ngân sách để hỗ trợ các dự án có khả năng đầu tư PPP; sau khi không đấu thầu được nhà đầu tư mới xem xét hình thức đầu tư công; nghiên cứu rút ngắn thời gian đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư nhưng vẫn bảo đảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả.

Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương để đẩy mạnh hỗ trợ chuẩn bị các dự án ưu tiên từ nguồn vốn hỗ trợ chuẩn bị đầu tư (PDF).

Các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, trên cơ sở kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn dự kiến được phân bổ và các nguồn lực khác, tiếp tục rà soát thứ tự ưu tiên để lập và công bố danh mục dự án PPP làm cơ sở mời gọi đầu tư; chủ động nghiên cứu giải pháp thu hút đầu tư trên nguyên tắc thị trường, công khai, minh bạch.

Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính đánh giá cụ thể nhu cầu vốn tín dụng cho các dự án PPP trong giai đoạn tới, đề xuất các giải pháp khả thi để thu xếp vốn.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu các cơ chế bảo lãnh để áp dụng thí điểm cho một số dự án PPP giao thông quan trọng; dự thảo cơ chế sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước đối với dự án PPP, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2017.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, ngành và địa phương cập nhật thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và Trang thông tin về PPP để phục vụ chương trình truyền thông về PPP.

Trong quá trình thực hiện, trường hợp có vướng mắc hoặc đề xuất, các bộ, ngành và địa phương gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo để xem xét, giải quyết./.