(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/12.

Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Tân Trào

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030.

Khu vực quy hoạch phát triển Khu du lịch quốc gia Tân Trào thuộc phạm vi hành chính các xã: Tân Trào, Minh Thanh, Trung Yên, Bình Yên, Lương Thiện (huyện Sơn Dương) và Kim Quan (huyện Yên Sơn). Diện tích vùng lõi tập trung phát triển Khu du lịch quốc gia là 2.500 ha (thuộc vùng bảo vệ cảnh quan di tích, phục vụ du lịch theo Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ).

Mục tiêu đến năm 2025 đón khoảng 1,5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 2.000 lượt. Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 2,0 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 35 nghìn lượt; tổng thu từ khách du lịch (theo giá hiện hành) năm 2025 đạt trên 600 tỷ đồng và năm 2030 đạt khoảng 1.650 tỷ đồng.

Trong đó, thị trường khách du lịch nội địa tập trung khai thác thị trường khách từ các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ) và các tỉnh vùng lân cận (các tỉnh khu vực Đông Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc, khu vực miền núi Tây Bắc). Từng bước mở rộng ra các thị trường khách đến từ các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

Các thị trường quốc tế trọng điểm là thị trường từ các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc); các quốc gia Đông Nam Á (Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines); thị trường khách là người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam; thị trường từ các quốc gia có yếu tố lịch sử liên quan đến Tân Trào.

Phát triển sản phẩm du lịch, trong đó, sản phẩm du lịch chính gồm: Du lịch dựa trên việc khai thác các giá trị lịch sử: tham quan, tìm hiểu các giá trị của quần thể di tích lịch sử cách mạng; giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, đạo lý uống nước nhớ nguồn; du lịch sự kiện…; du lịch dựa trên việc khai thác các giá trị văn hóa: tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa tộc người; lễ hội truyền thống, tâm linh…; du lịch sinh thái, thưởng ngoạn cảnh quan tự nhiên: nghiên cứu hệ sinh thái, tham quan cảnh quan, du thuyền sông Phó Đáy…

Về định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật du lịch, phát triển đủ số lượng buồng lưu trú cho khách du lịch theo từng giai đoạn. Cụ thể, đến năm 2025 khoảng 500 buồng và năm 2030 khoảng 1.000 buồng đạt tiêu chuẩn chất lượng từ 3 sao trở lên. Ngoài ra, phát triển các làng camping, các khu bungalow, các lều trại mang tính dân tộc, nhà dân (homestay)... tại thôn Tân Lập, thôn Niếng, thôn Quan Hạ.

Bên cạnh đó, phát triển các nhà hàng, cơ sở ăn uống trong các khách sạn và độc lập bên ngoài tại các trung tâm đón tiếp, các trung tâm dân cư để phục vụ các món ăn dân dã, bản địa. Quy mô nhà hàng không quá 200 chỗ; thiết kế, kiến trúc nhà hàng tuân thủ theo Quy chế quản lý ban hành theo Quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch đến năm 2025 (Quy hoạch bảo tồn di tích).  

Hệ thống vui chơi giải trí gồm các tiện nghi thể thao, vui chơi nh­ư bể bơi, sân bóng chuyền, cầu lông, câu lạc bộ, các trò chơi dân gian, công viên cây xanh... được phát triển gắn liền với các khách sạn, nhà hàng, các trung tâm dân cư.

Về định hướng đầu tư, huy động hiệu quả mọi nguồn lực để đầu tư phát triển Khu du lịch quốc gia Tân Trào, bao gồm: vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách Nhà nước, Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, vốn từ các tổ chức, doanh nghiệp, thành phần kinh tế trong nước và các nguồn vốn huy động hợp pháp trong nước khác. Trong đó ưu tiên thu hút các nguồn đầu tư vào các phân khu chức năng theo quy hoạch để phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.

Căn cứ vào khả năng cân đối vốn hàng năm, ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật; hỗ trợ một phần cho xúc tiến quảng bá, xây dựng thương hiệu Khu du lịch quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử, các giá trị tự nhiên, bảo vệ tài nguyên du lịch và thích ứng với biến đổi khí hậu theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, Luật đầu tư công và các quy định có liên quan.

Bắc Kạn quyết tâm phát triển toàn diện

Bắc Kạn cần có giải pháp đột phá, thực hiện quyết liệt để xây dựng Tỉnh phát triển nhanh, bền vững, toàn diện.

Đây là ý kiến kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn.

Bắc Kạn là tỉnh khó khăn với nhiều dân tộc thiểu số, điểm xuất phát thấp nhưng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển, tăng trưởng kinh tế năm 2017 dự ước đạt 5,5% - 6%. Bình quân lương thực đầu người ở mức cao trong vùng (570kg/người/năm). Công tác giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã hội, bảo đảm an sinh xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, Bắc Kạn vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Quy mô kinh tế còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước; tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với cả nước, giảm nghèo chưa bền vững...

Trước thực tế trên, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Bắc Kạn cần phát huy truyền thống tốt đẹp, khẩn trương khắc phục tồn tại, hạn chế yếu kém, đoàn kết, nỗ lực với khát vọng vương lên mạnh mẽ, khai thác tiềm năng, lợi thế để có giải pháp đột phá, thực hiện quyết liệt để xây dựng Tỉnh phát triển nhanh, bền vững, toàn diện.

Cụ thể, từ nay đến cuối năm 2017, Bắc Kạn cần tập trung chỉ đạo và thực hiện quyết liệt các giải pháp để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đã đề ra, chú trọng việc giải ngân các nguồn vốn, thu ngân sách trên địa bàn, phát triển doanh nghiệp...

Đối với năm 2018 và những năm tiếp theo, Tỉnh cần có mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp cụ thể khắc phục hạn chế yếu kém trong từng ngành, từng lĩnh vực; lựa chọn một số lĩnh vực ưu tiên, đột phá, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng; triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững" tạo ra sản phẩm hàng hóa có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường, tập trung trồng rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ để nâng cao giá trị kinh tế rừng; thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển nông, lâm nghiệp, đảm bảo chất lượng và phát triển các vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Đồng thời, tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và các nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia đoạn 2016 - 2020, công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện Chương trình nông thôn mới; tập trung nguồn lực đầu tư cho các xã điểm và các xã dự kiến đạt chuẩn trong gia đoạn 2017 - 2020; kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới; tập trung nâng cao đời sống dân cư khu vực nông thôn gắn với giảm nghèo bền vững.

Phát triển các sản phẩm công nghiệp có tiềm năng, thế mạnh, mà trọng tâm là công nghiệp chế biến nông, lâm sản và chế biến khoáng sản; có chính sách hỗ trợ phù hợp để thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến tháo gỡ khó khăn cho các dự án công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã và đang đầu tư trên địa bàn; thực hiện tốt công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, nhất là công tác cấp phép khai thác, tiêu thụ khoáng sản và bảo vệ môi trường; làm tốt công tác liên kết vùng, kết nối các địa phương với các chuỗi giá trị; thu hút đầu tư phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, trọng tâm là du lịch Hồ Ba Bể.

Thủ tướng cũng yêu cầu tỉnh Bắc Kạn đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao các chỉ số PCI và PAPI, phát triển doanh nghiệp, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; tổ chức xúc tiến đầu tư, có cơ chế chính sách thông thoáng thu hút các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào Tỉnh để phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; chú trọng công tác giáo dục đào tạo, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo bền vững và các chính sách giải quyết việc làm gắn với phát triển thị trường lao động, ổn định và phát triển thị trường xuất khẩu lao động; thực hiện đầy đủ các chính sách dân tộc, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công; làm tốt công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai...

Bổ sung thành viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định bổ sung thành viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 - 2021.

Theo đó, thành viên được bổ sung làm ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 - 2021 gồm: Trung tướng, GS.TS Trần Hữu Phúc, Cục trưởng Cục Nhà trường, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng và Thiếu tướng Đỗ Ngọc Cẩn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, Bộ Công an.

Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016 - 2021 được thành lập từ tháng 3/2017. Hội đồng gồm 26 thành viên. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc làm Chủ tịch Hội đồng. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam làm Phó Chủ tịch Hội đồng.

Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực là tổ chức tư vấn, có nhiệm vụ tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đánh giá, tổng kết về sự nghiệp đổi mới trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nhân lực; chỉ đạo hoàn thiện và triển khai các Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật giáo dục nghề nghiệp, Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, Khung trình độ giáo dục quốc gia, các chiến lược phát triển giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, chiến lược và quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2021.

Bên cạnh đó, nghiên cứu, tư vấn giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, điều hành, quyết định các chính sách, biện pháp quan trọng phát triển giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và phát triển nhân lực; nghiên cứu, tư vấn, góp ý kiến về việc xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách, đề án quan trọng thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và những vấn đề chuyên môn khác do Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.

Triển khai hiệu quả các biện pháp bảo vệ trẻ em

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại cuộc họp Ủy ban Quốc gia về trẻ em.

Thông báo kết luận nêu rõ, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước chỉ đạo và có sự phối hợp trong triển khai thực hiện của tất cả các bộ, ngành, địa phương nhằm tạo ra môi trường sống an toàn lành mạnh cho trẻ em, điều kiện tốt nhất để trẻ em thực hiện 4 nhóm quyền cơ bản của mình đó là quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia.

Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ban, ngành là thành viên Ủy ban quốc gia rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phù hợp với quy định của Luật Trẻ em và Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em.

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai hiệu quả các biện pháp để bảo vệ trẻ em, chỉ đạo phân bổ, lồng ghép nguồn lực để triển khai thực hiện các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch về trẻ em giai đoạn 2016-2020, thực hiện công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và những khuyến nghị của Ủy ban quyền trẻ em của Liên hợp quốc đối với báo cáo thực hiện Công ước, điều ước quốc tế có liên quan đến trẻ em mà Việt Nam tham gia.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp tiếp nhận thông tin trực tiếp từ Tổng đài điện thoại quốc gia Bảo vệ trẻ em (111) và tham gia phát triển, hộ trợ các trường hợp trẻ em có nguy cơ hoặc bị bạo lực, xâm hại; phối hợp với các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ trẻ em.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về các biện pháp bảo vệ trẻ em, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em ở địa phương.

Đồng thời chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Trẻ em và các văn bản hướng dẫn, ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện các vấn đề liên quan đến trẻ em và thực hiện quyền trẻ em.

Các cơ quan thường trực của Ủy ban quốc gia về trẻ em có trách nhiệm cung cấp các thông tin, tài liệu, điều kiện cần thiết để các thành viên Ủy ban quốc gia về trẻ em thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em và thực hiện quyền trẻ em.

Xây cầu Long Hồ, TP Cam Ranh (Khánh Hòa)

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến chỉ đạo về dự án cầu Long Hồ, thành phố Cam Ranh theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).

Phó Thủ tướng giao UBND tỉnh Khánh Hòa thực hiện Quyết định phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi và các cam kết với Nhà đầu tư đối với dự án cầu Long Hồ, sớm làm việc với Bộ Quốc phòng để thu xếp quỹ đất thanh toán cho Nhà đầu tư để triển khai dự án theo đúng cam kết.

Trường hợp có việc điều chỉnh so với nội dung cam kết, UBND tỉnh Khánh Hòa thống nhất với Nhà đầu tư về phương án xử lý, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhà đầu tư, không để xảy ra tranh chấp, khiếu kiện phức tạp.

Theo UBND tỉnh Khánh Hòa, cầu Long Hồ nối liền bán đảo Cam Ranh và thành phố Cam Ranh. Đây là tuyến giao thông quan trọng nối đường Nguyễn Tất Thành tới thành phố Cam Ranh nên mật độ người và phương tiện tham gia giao thông rất lớn. Cầu Long Hồ hiện nay đã bị xuống cấp, có nguy cơ mất an toàn giao thông. Ngoài ra, cầu Long Hồ hiện tại có độ thông thuyền thấp, tàu thuyền lớn không thể đi qua để vào đầm Thủy Triều nên hạn chế sự phát triển ở khu vực này.

Ban Quản lý dự án các công trình trọng điểm tỉnh Khánh Hòa cho biết, khi cầu Long Hồ mới được xây dựng xong sẽ tháo dỡ cầu Long Hồ hiện nay. Cầu Long Hồ mới được xây với độ cao thông thuyền để trong tương lai, tàu thuyền du lịch có thể ra vào các khu du lịch ven đầm Thủy Triều và phía Tây bán đảo Cam Ranh. Phần đường chính cầu giao nhau từ Quốc lộ 1A đến Đại lộ Nguyễn Tất Thành có chiều dài đoạn tuyến 1.003m, bề rộng mặt đường 36m; trong đó có 6 làn xe (4 làn xe cơ giới, 2 làn xe thô sơ…). Đường nối từ nút giao nhau giữa tuyến chính với Đại lộ Nguyễn Tất Thành đến cổng chính sân bay Cam Ranh có chiều dài đoạn tuyến 700m, bề rộng mặt đường 60m, trong đó phần xe cơ giới 15m với 4 làn xe…

Điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký quyết định 2072/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Mục tiêu điều chỉnh quy hoạch là từng bước hình thành và phát triển hệ thống cảng cạn nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu, tăng năng lực thông qua hàng hóa của các cảng biển; tổ chức vận chuyển công - ten - nơ một cách hợp lý nhằm giảm chi phí vận chuyển và thời gian lưu hàng tại cảng biển, đảm bảo an toàn hàng hóa; góp phần giảm ùn tắc giao thông, đặc biệt ở các đô thị lớn và khu vực có cảng biển lớn. Phát triển hệ thống cảng cạn trở thành các đầu mối tổ chức vận tải, trung chuyển, phân phối hàng hoá, kết hợp với cung cấp các dịch vụ logistics.

Phấn đấu đến năm 2020, phát triển hệ thống cảng cạn có khả năng thông qua tối thiểu khoảng 15% - 20% nhu cầu hàng hoá vận tải công - ten - nơ thông qua hệ thống cảng biển, năng lực thông qua 4.035.000 - 6.845.000 TEU/năm, trong đó miền Bắc đạt 720.000 - 1.810.000 TEU/năm, miền Trung đạt 65.000 - 175.000 TEU/năm, miền Nam đạt 3.250.000 - 4.860.000 TEU/năm.

Đến năm 2030, phát triển hệ thống cảng cạn có khả năng thông qua tối thiểu khoảng 25% - 30% nhu cầu hàng hoá vận tải công - ten - nơ thông qua hệ thống cảng biển, năng lực thông qua khoảng 12.000.000 - 17.600.000 TEU/năm, trong đó miền Bắc đạt khoảng 2.750.000 - 4.820.000 TEU/năm, miền Trung đạt khoảng 350.000 - 630.000 TEU/năm, miền Nam đạt khoảng 8.900.000 - 12.150.000 TEU/năm.

Khu vực miền Bắc quy hoạch phát triển 6 cảng cạn tại khu vực kinh tế ven biển; hành lang kinh tế Hà Nội - Lào Cai; hành lang kinh tế Hà Nội - Lạng Sơn; khu vực kinh tế Tây Bắc Hà Nội; khu vực kinh tế Đông Nam Hà Nội; hành lang kinh tế Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng.

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên quy hoạch phát triển 6 cảng cạn tại các khu vực hành lang kinh tế Đường 9; khu vực kinh tế Đà Nẵng - Thừa Thiên Huế, Đường 14; hành lang kinh tế Đường 19; khu vực Tây Nguyên; khu kinh tế Nghi Sơn; hành lang kinh tế Đường 8, Đường 12A.

Khu vực miền Nam quy hoạch phát triển cảng cạn tại 3 khu vực kinh tế Đông Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; khu vực kinh tế Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh; khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cảng cạn đến năm 2020 khoảng 09 -15 nghìn tỷ đồng, giai đoạn 2020 - 2030 khoảng 20 - 22 nghìn tỷ đồng.

Giai đoạn từ nay đến năm 2020, tập trung đầu tư một số cảng cạn trên các hành lang vận tải kết nối với các cửa khẩu cảng biển lớn ở khu vực phía Bắc (cảng Hải Phòng) và khu vực phía Nam (cảng Thành phố Hồ Chí Minh,  Cái Mép - Thị Vải), các cảng cạn gắn với các hành lang vận tải qua biên giới.

Ưu tiên đầu tư cảng cạn có vị trí kết nối được với hai phương thức vận tải, các vị trí gắn liền hoặc nằm gần các cụm khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung, các trung tâm logistics cấp I đã được quy hoạch, các cửa khẩu quốc tế lớn về đường bộ.

Quy hoạch cũng đề ra các giải pháp và cơ chế, chính sách chủ yếu như: Tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển cảng cạn; huy động tối đa mọi nguồn lực để phát triển hệ thống cảng cạn và hệ thống giao thông kết nối; kết hợp quy hoạch phát triển cảng cạn và trung tâm logistics; tăng cường sự tham gia của vận tải đường sắt, đường thuỷ nội địa vào lĩnh vực vận tải công - ten - nơ và phát triển cảng cạn.../.