(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/1/2018.
Bãi bỏ một số điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xăng dầu

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 08/2018/NĐ-CP sửa đổi một số Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Công Thương.

Trong đó, về lĩnh vực xăng dầu, bãi bỏ một số điều, khoản của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.

Cụ thể, bãi bỏ Điều 5 (quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăng dầu); khoản 6 Điều 7 (điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, bỏ điều kiện phù hợp với quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu); Điều 10 (điều kiện sản xuất xăng dầu); khoản 1 Điều 24 (điều kiện đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu, bỏ điều kiện địa điểm phải phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt); khoản 5 Điều 41 (cơ sở kinh doanh xăng dầu hiện có chưa phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thực hiện lộ trình nâng cấp, bảo đảm phù hợp quy hoạch theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch đó).

Bên cạnh đó, bãi bỏ một số nội dung tại Điều 7 về điều kiện đối với thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu. Cụ thể, bãi bỏ nội dung sau tại khoản 3: "Sau 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với hệ thống kho, đủ đáp ứng tối thiểu 1/3 nhu cầu dự trữ của thương nhân quy định tại khoản 1 Điều 31 Nghị định này".

Bãi bỏ nội dung sau tại khoản 4: "Sau 2 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc đồng sở hữu với số vốn góp tối thiểu 51% đối với các phương tiện vận tải xăng dầu nội địa có tổng sức chứa tối thiểu là 3.000 m3".

Bãi bỏ nội dung sau tại khoản 5:" Mỗi năm, kể từ khi được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, phải sở hữu hoặc sở hữu và đồng sở hữu tối thiểu 4 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, cho đến khi đạt tối thiểu 100 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân".

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Vĩnh Long

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 04/NQ-CP về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) tỉnh Vĩnh Long.

Theo quy hoạch, đến năm 2020 tổng diện tích của tỉnh Vĩnh Long là 152.573 ha, trong đó, 113.582 ha đất nông nghiệp, chiếm 74,44% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, nhiều nhất là đất trồng lúa 64.500 ha, chiếm 42,27%. Ngoài ra, có 45.356 ha đất trồng cây lâu năm, chiếm 29,73%; 2.300 ha đất nuôi trồng thủy sản;...

Diện tích đất phi nông nghiệp là 38.991 ha chiếm 25,56% diện tích đất toàn tỉnh. Từ 2016-2020, 7.149 ha đất nông nghiệp được chuyển sang phi nông nghiệp.

Căn cứ vào Nghị quyết này, UBND tỉnh Vĩnh Long có trách nhiệm tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020), trong đó rà soát điều chỉnh quy hoạch của các ngành, lĩnh vực, các địa phương trong tỉnh có sử dụng đất cho thống nhất với điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh; việc tổ chức thực hiện điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, trước hết là nguồn ngân sách Nhà nước bảo đảm lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực bảo vệ đất trồng lúa, đất rừng; có chính sách, biện pháp phù hợp để giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập, để người trồng lúa yên tâm sản xuất; tăng đầu tư hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các khu vực.

UBND tỉnh Vĩnh Long cần quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng đất để tập trung cho phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển dịch vụ, đô thị để tăng nguồn thu cho ngân sách; đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất. Khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang đất đã giao và đã cho thuê. Tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ quỹ đất được quy hoạch phát triển đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ đất, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu sử dụng đất giữa đất ở với đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; kiên quyết không giải quyết giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất đối với các trường hợp không có trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; xử lý các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, sử dụng sai mục đích theo quy định của pháp luật đất đai.

Nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, hành chính

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị triển khai công tác thi hành án dân sự, hành chính năm 2018.

Theo đó, về phương hướng, nhiệm vụ năm 2018, Bộ Tư pháp và ngành thi hành án toàn quốc cần xác định công tác thi hành án dân sự, hành chính năm 2018 tiếp tục gắn liền với yêu cầu xây dựng nền tư pháp nhân dân, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và chủ trương của Chính phủ “kiến tạo, phát triển, liêm chính và phục vụ”.

Trong bối cảnh đó, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành, địa phương và đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 06/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác thi hành án dân sự, nỗ lực triển khai đồng bộ, toàn diện các mặt công tác thi hành án, trong đó chú trọng một số nhiệm vụ.

Cụ thể, Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức nghiên cứu, triển khai hiệu quả những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Chính phủ trong hoạt động thi hành án dân sự, hành chính. Toàn ngành cần thay đổi tư duy, nhận thức và hành động để tinh gọn thủ tục thi hành án, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành án, bảo đảm thực hiện mục tiêu rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng và thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp.

Hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, hành chính theo Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội; tập trung hoàn thành, nâng cao chỉ tiêu về vụ việc, số tiền, đặc biệt là trong thu hồi tiền, tài sản trong những vụ án tham nhũng, kinh tế và thu hồi các khoản nợ của các tổ chức tín dụng; chỉ đạo cơ quan thi hành án địa phương tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành.

Tập trung tham mưu giúp Chính phủ triển khai hiệu quả các nhiệm vụ quản lý Nhà nước; đề xuất các biện pháp cụ thể nâng cao kỷ luật, kỷ cương của các cơ quan hành chính trong việc chấp hành bản án, quyết định hành chính có hiệu lực pháp luật; thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, đôn đốc, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân không chấp hành án hành chính theo quy định. Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế về thi hành án hành chính; thực hiện nghiêm túc việc công khai giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết các khiếu nại, tố cáo với tinh thần trách nhiệm cao, đúng pháp luật, tăng cường đối thoại trực tiếp với công dân, hạn chế phát sinh những vụ việc khiếu nại, tố cáo vượt cấp, phức tạp, kéo dài.

Các cơ quan thi hành án dân sự chủ động, tích cực đề xuất tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương, Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tập trung chỉ đạo phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án, đặc biệt là cưỡng chế giao tài sản đã bán đấu giá thành; giải quyết dứt điểm các vụ việc trọng điểm, giá trị lớn, phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; xử lý nghiêm các trường hợp chây ỳ, trốn tránh, cố ý không chấp hành án; công khai thông tin về người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án.

Đẩy mạnh và thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa việc tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua các dịch vụ công ích. Nâng cao hiệu quả hỗ trợ trực tuyến thi hành án, tiến tới cung cấp dịch vụ trực tuyến đối với một số thủ tục hành chính. Từ năm 2018, toàn hệ thống phải vận hành và thực hiện nghiêm túc Phần mềm quản lý và thống kê thi hành án dân sự.

Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh và cảnh báo, phòng ngừa những vi phạm, sai sót trong toàn hệ thống thi hành án. Tăng cường vai trò giám sát, kiểm tra của các tổ chức hữu quan, mặt trận, đoàn thể, ủy ban kiểm tra các cấp, trong đó, đặc biệt lưu ý vai trò kiểm sát của viện kiểm sát đối với công tác thi hành án dân sự.

Quan tâm thực hiện và phối hợp tốt với các cơ quan truyền thông, báo chí để làm tốt công tác tuyên truyền, truyền thông, báo chí về pháp luật, xây dựng ý thức công dân về chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng. Khuyến khích việc thỏa thuận trong quá trình tổ chức thi hành án nhằm giảm bớt các tranh chấp trong xã hội, xây dựng xã hội chấp hành pháp luật.

Xây dựng, hoàn thiện các cơ quan tư pháp, trong đó có hệ thống thi hành án dân sự trong sạch, vững mạnh. Chấp hành viên và người làm công tác thi hành án dân sự liêm chính, có phẩm chất đạo đức, không làm sai lệch bản chất của vụ việc, không bị tác động bởi quyền lợi riêng tư, lợi ích nhóm. Chú ý thực hiện tốt công các đào tạo, bồi dưỡng chấp hành viên, quản tài viên, thừa phát lại, bảo đảm đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ.

Thực hiện chặt chẽ khâu thẩm định tài sản bảo đảm để cho vay

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công an chỉ đạo cơ quan công an các cấp phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án tổ chức bảo vệ an ninh, trật tự, bảo đảm cưỡng chế thi hành án hiệu quả, kịp thời, chấn chỉnh một số cơ quan công an địa phương thiếu tinh thần phối hợp; kiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp cản trở, chống đối, cố ý chây ỳ thi hành án; chuyển giao vật chứng, tài sản, giấy tờ tạm giữ đúng thời hạn; chỉ đạo cơ quan điều tra công an các cấp thực hiện và phối hợp với các cơ quan kiểm sát, tòa án trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thực hiện phong tỏa tài sản đối với các vụ án tham nhũng, kinh tế, tránh tẩu tán tài sản.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện chặt chẽ khâu thẩm định tài sản bảo đảm để cho vay; nghiên cứu cơ chế để tổ chức tín dụng được nhận tài sản đã đấu giá nhiều lần nhưng không có người mua; kịp thời cung cấp thông tin về tài khoản, nghiêm túc thực hiện các quyết định về phong tỏa, khấu trừ tiền trong tài khoản.

UBND, ban bhỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, kịp thời chỉ đạo UBND, ban chỉ đạo thi hành án dân sự cấp huyện và các cơ quan, đơn vị trực thuộc thực hiện tốt công tác phối hợp, kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong việc phối hợp cũng như trong hoạt động tổ chức thi hành án trên địa bàn. Tập trung chỉ đạo việc phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án, đặc biệt là cưỡng chế giao tài sản đã bán đấu giá thành; giải quyết dứt điểm các vụ việc trọng điểm, giá trị lớn, phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, các vụ án về tham nhũng và các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng; xử lý nghiêm các trường hợp chây ỳ, trốn tránh, cố ý không chấp hành án.

Đề nghị Tòa án nhân dân Tối cao tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong việc chuyển giao bản án, quyết định; nhanh chóng giải quyết đối với các tranh chấp, yêu cầu về xác định phần sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong tài sản chung của hộ gia đình; giải quyết đúng thời hạn đối với các kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự; kịp thời giải thích bản án, quyết định đã tuyên, bảo đảm tính khả thi.

Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đề nghị kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án các cấp, quan tâm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các đối tượng là tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình tổ chức thi hành án, đồng thời, tăng cường kiểm sát thi hành án hành chính. Khi kiểm sát quá trình tổ chức thi hành án, nếu nhận thấy việc xử lý tài sản thi hành án thông qua đấu giá có vi phạm thì cơ quan kiểm sát kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản và pháp luật có liên quan; trường hợp hành vi vi phạm cấu thành tội phạm thì có quyền đề nghị cơ quan Điều tra xem xét theo trình tự tố tụng hình sự.

Đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam tại phiên họp toàn thể Ủy ban Quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin.

Năm 2017, thực hiện các nhiệm vụ được giao, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, ngành, địa phương đã tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, bước đầu bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghệ thông tin, bảo đảm an toàn thông tin và xây dựng Chính phủ điện tử.

Bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế, nhiều nhiệm vụ mới bắt đầu được triển khai, chưa có kết quả cụ thể, ví dụ như: công tác phối hợp, cung cấp thông tin cho các tổ chức quốc tế phục vụ đánh giá chỉ số Chính phủ điện tử còn một số bất cập, cần tiếp tục có những giải pháp đối với từng nhóm chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI), hạ tầng viễn thông (TII) và nguồn nhân lực (HCI); cơ chế tài chính, việc thuê dịch vụ công nghệ thông tin chưa được tháo gỡ triệt để, kịp thời, còn nhiều lúng túng; Cổng dịch vụ công quốc gia còn chậm triển khai...

Nhằm đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, nền tảng của cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn tiếp theo, trong năm 2018, các bộ, ngành, địa phương cần tăng cường năng lực tiếp cận cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Phó Thủ tướng giao Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tổng hợp, đánh giá các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4; xác định rõ, cụ thể các nhiệm vụ trọng tâm của các bộ, ngành trong từng năm và trong giai đoạn tiếp theo; đề xuất, kiến nghị những vấn đề trọng yếu cần chỉ đạo thực hiện, làm nền tảng cho phát triển (hạ tầng băng rộng, thanh toán điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia…) và các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp để hỗ trợ thực hiện.

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ, cơ quan liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của xã hội về cách mạng công nghiệp lần thứ 4; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam chuẩn bị các nội dung phù hợp đưa vào một số chương trình trò chơi truyền hình có đông lượng người xem như Đường lên đỉnh Olympia, Ai là triệu phú...

Nâng cao chỉ số Chính phủ điện tử

Về dịch vụ công trực tuyến (OSI), Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương hoàn thành việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 theo Danh mục dịch vụ công trực tuyến đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành; phấn đấu đến hết năm 2018 tăng gấp đôi số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 so với năm 2017 trong đó ưu tiên triển khai các dịch vụ công liên quan đến doanh nghiệp.

Văn phòng Chính phủ hoàn thành việc xây dựng Cổng Dịch vụ công quốc gia và đưa vào sử dụng trong năm 2018, bảo đảm kết nối liên thông, chia sẻ dữ liệu với cổng dịch vụ công các bộ, ngành địa phương, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Về hạ tầng viễn thông (TII), Phó Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông tập trung phát triển hạ tầng băng rộng, 4G, tháo gỡ khó khăn (cước phí, băng tần) trong việc phân bổ tài nguyên viễn thông, đáp ứng nhu cầu phát triển chung của đất nước.

Các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương tổ chức xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia được giao tại Quyết định số 714/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ, tăng cường thuê dịch vụ công nghệ thông tin trong quá trình triển khai, nhất là đối với các cơ sở dữ liệu đi kèm với dịch vụ công (đo đất đai, cấp phép xây dựng).

Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu đề xuất Thủ tướng Chính phủ hành lang pháp lý để chỉ đạo thống nhất việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia nền tảng; trên tinh thần kết nối thống nhất về Cổng Dịch vụ công quốc gia của Chính phủ để chia sẻ, dùng chung. /.