(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Quy định công tác bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt của Nhà nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định quy định về công tác bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt của Nhà nước do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang bảo vệ.

Theo quy định, hàng đặc biệt do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang bảo vệ vận chuyển gồm: 1- Tiền mặt (tiền đồng Việt Nam), giấy tờ có giá (trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, công trái và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật) trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước; 2- Tài sản quý (vàng, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ tiền mặt và các loại tài sản quý khác) trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước; 3- Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước.

Lực lượng vũ trang bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt bao gồm: a- Đơn vị Cảnh sát nhân dân trực thuộc Bộ Công an có trách nhiệm vũ trang bảo vệ các chuyến vận chuyển hàng đặc biệt do các cơ quan quản lý hàng đặc biệt ở trung ương yêu cầu; b- Đơn vị Cảnh sát nhân dân trực thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm vũ trang bảo vệ các chuyến vận chuyển hàng đặc biệt do các cơ quan quản lý hàng đặc biệt ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương yêu cầu.

Nguyên tắc bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt

Công tác bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt phải bảo đảm nguyên tắc: 1- Tuân thủ các quy định của pháp luật; bảo vệ tuyệt đối an toàn hàng đặc biệt; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 2- Bảo đảm tuyệt đối bí mật kế hoạch, quá trình vận chuyển và các thông tin, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước; 3- Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm phạm hàng đặc biệt hoặc cản trở quá trình vận chuyển; 4- Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Cảnh sát nhân dân làm nhiệm vụ vũ trang bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt với cơ quan quản lý hàng đặc biệt và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; 5- Gắn công tác bảo vệ vận chuyển hàng đặc biệt với việc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên các tuyến vận chuyển.

Theo quy định, phương tiện vận chuyển hàng đặc biệt bằng xe chuyên dùng trên đường bộ hoặc phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Nghị định nêu rõ, việc bố trí cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ hàng đặc biệt phải bảo đảm ít nhất 02 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát thường xuyên làm nhiệm vụ trên mỗi xe chở hàng, xe hộ tống, toa xe đường sắt hoặc trên mỗi phương tiện vận tải đường thủy nội địa, đường hàng không.

Đối với các chuyến vận chuyển nhiều ngày trên phương tiện đường sắt thì việc bố trí cán bộ, chiến sĩ được tổ chức thực hiện theo các ca làm nhiệm vụ và phải bảo đảm thời gian làm việc theo quy định của pháp luật về lao động.

Không chở người không có nhiệm vụ và bất cứ thứ gì khác không phải là hàng đặc biệt trên phương tiện vận chuyển hàng đặc biệt, trừ trường hợp gửi vận chuyển hàng đặc biệt trên phương tiện đường thủy nội địa, đường hàng không.

Các phương tiện vận chuyển hàng đặc biệt được ưu tiên khi đi qua các ga, cầu, phà, hầm, đèo, các trạm thu phí và được đi trong giờ cao điểm.

Phải trả tiền nhuận bút khi sử dụng bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 (Luật sở hữu trí tuệ) về quyền tác giả, quyền liên quan.

Trong đó, Nghị định quy định rõ về khai thác, sử dụng bản ghi âm, ghi hình. Cụ thể, tổ chức, cá nhân sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật sở hữu trí tuệ phải trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.

Các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan có thể thỏa thuận, thống nhất, ủy quyền đàm phán, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thu được do các tổ chức này tự thỏa thuận.

Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ủy quyền có trách nhiệm xây dựng danh mục hội viên, tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng của hội viên và chịu trách nhiệm khi ký hợp đồng ủy quyền cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền đại diện đàm phán thỏa thuận, thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.

Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan nhận ủy quyền chỉ có trách nhiệm đàm phán thỏa thuận thu tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất theo danh mục hội viên, tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được quy định tại hợp đồng ủy quyền.

Thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất

Nghị định cũng quy định thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất. Theo đó, việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất thực hiện theo quy định tại Điều lệ hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan và văn bản ủy quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thỏa thuận về mức hoặc tỷ lệ phần trăm, phương thức và thời gian phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất.

Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng được khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều tổ chức đại diện tập thể được ủy quyền đại diện cho một quyền, nhóm quyền cụ thể, các tổ chức có thể thỏa thuận để một tổ chức thay mặt đàm phán cấp phép sử dụng, thu và phân chia tiền theo Điều lệ và văn bản ủy quyền.

Việc thu, phân chia tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất từ các tổ chức tương ứng của nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế thực hiện theo quy định về quản lý ngoại hối.

Nghị định có hiệu lực từ 10/4.

Quy định bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Nghị định số 23/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc nêu rõ: Bên mua bảo hiểm cháy, nổ phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại các doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nổ theo quy định pháp luật.

Nghị định 23/2018/NĐ-CP áp dụng đối với: Cơ quan, tổ chức và cá nhân có cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 79/2014/NĐ-CP (bên mua bảo hiểm); doanh nghiệp bảo hiểm; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Nghị định quy định: Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo điều kiện, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu theo quy định.

Theo quy định, đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc là toàn bộ tài sản của cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ gồm:  a- Nhà, công trình và các tài sản gắn liền với nhà, công trình; máy móc, thiết bị; b- Các loại hàng hoá, vật tư (bao gồm cả nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm).

Số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu là giá trị tính thành tiền theo giá thị trường của các tài sản trên tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc do các bên thoả thuận. Cụ thể, đối với các tài sản quy định tại điểm a thì số tiền bảo hiểm là giá trị tính thành tiền của tài sản theo giá trị còn lại hoặc giá trị thay thế của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Đối với các tài sản quy định tại điểm b, số tiền bảo hiểm là giá trị tính thành tiền của tài sản căn cứ theo hóa đơn, chứng từ hợp lệ hoặc các tài liệu có liên quan.

Mức phí bảo hiểm

Nghị định quy định rõ, đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ (trừ cơ sở hạt nhân) có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm dưới 1.000 tỷ đồng thì mức phí bảo hiểm được xác định bằng số tiền bảo hiểm tối thiểu nhân với tỷ lệ phí bảo hiểm quy định tại Nghị định. Trên cơ sở mức phí bảo hiểm quy định tại điểm này, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm áp dụng đối với từng cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ căn cứ vào mức độ rủi ro của từng cơ sở và theo quy định pháp luật.

Đối với cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ có tổng số tiền bảo hiểm của các tài sản tại một địa điểm từ 1.000 tỷ đồng trở lên và cơ sở hạt nhân thì doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận mức phí bảo hiểm theo quy định pháp luật và trên cơ sở được doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chấp thuận.

Nghị định cũng quy định cụ thể mức khầu trừ bảo hiểm. Mức khấu trừ bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm phải tự chịu trong mỗi sự kiện bảo hiểm.

Đẩy nhanh tiến độ thu phí điện tử tự động không dừng

Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị yêu cầu đẩy nhanh tiến độ triển khai thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng.

Chỉ thị nêu rõ, ngày 27/3/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg về việc thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng. Sau gần 1 năm thực hiện Quyết định, các cơ quan, đơn vị đã nỗ lực triển khai thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng tại các trạm thu giá theo hình thức BOT, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định.

Tuy nhiên, việc triển khai hệ thống thu giá vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; chưa ban hành các văn bản quy định cụ thể về quản lý, vận hành hệ thống thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng; chưa xây dựng lộ trình cụ thể để chuyển sang thu giá tự động đối với từng trạm thu giá; việc triển khai đầu tư các trạm thu giá còn thiếu đồng bộ, gây khó khăn cho người tham gia giao thông…

Để đẩy nhanh tiến độ chuyển thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ sang thực hiện theo hình thức điện tử tự động không dừng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia giao thông và minh bạch trong hoạt động thu giá, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành khung tiêu chuẩn chung về thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng, làm cơ sở để thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ thu giá theo Nghị quyết số 437/NQ-UBTVHQ14 ngày 21/10/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong quý I/2018 về lộ trình cụ thể chuyển thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ sang thực hiện theo hình thức điện tử tự động không dừng đối với tất cả các dự án hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức hợp đồng BOT trên toàn quốc; đồng thời, chỉ đạo các cơ quan có liên quan phối hợp với nhà đầu tư các dự án giao thông đường bộ theo hình thức hợp đồng BOT và nhà cung cấp dịch vụ thu giá chuyển thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ sang thực hiện theo hình thức điện tử tự động không dừng, bảo đảm nguyên tắc chỉ sử dụng 1 công nghệ thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng thống nhất trên toàn quốc.

Rà soát hành lang pháp lý, xây dựng Thông tư quy định về việc triển khai hệ thống thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng, bảo đảm chính xác, khách quan, minh bạch, kết nối liên thông, đồng bộ trong toàn quốc và mỗi phương tiện tham gia giao thông chỉ sử dụng 1 thẻ định danh (thẻ đầu cuối) để lưu thông qua tất cả các trạm thu giá.

Bộ Giao thông vận tải phối hợp với nhà cung cấp dịch vụ thu giá hướng dẫn chủ phương tiện giao thông đường bộ thực hiện gắn thẻ định danh (thẻ đầu cuối) đối với phương tiện giao thông tại các đại lý ủy quyền của nhà cung cấp dịch vụ thu giá, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, đúng quy định của pháp luật.

Các nhà đầu tư dự án hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức BOT cùng với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện ngay các thủ tục cần thiết để sửa đổi hợp đồng dự án, phục vụ việc chuyển sang thu giá dịch vụ sử dụng theo hình thức điện tử tự động không dừng. Đồng thời thực hiện đầu tư, lắp đặt thiết bị tại các trạm thu giá của Dự án; ký kết hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo mẫu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận để vận hành và kết nối đồng bộ với hệ thống, bảo đảm tiến độ đưa vào vận hành khai thác theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Nhà cung cấp dịch vụ thu giá xây dựng, cải tạo, lắp đặt, quản lý, vận hành hệ thống thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng theo đúng quy định tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg; thu đủ và đúng đối tượng thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo quy định của pháp luật; bảo đảm hệ thống thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng vận hành liên tục và an toàn tuyệt đối thông tin; không can thiệp làm sai lệch thông tin, dữ liệu thu giá; bảo mật các thông tin cá nhân của chủ phương tiện theo đúng quy định của pháp luật.

Nhà cung cấp dịch vụ thu giá thống nhất với nhà đầu tư dự án hạ tầng giao thông đường bộ ký hợp đồng dịch vụ thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng; tiếp quản trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ kịp thời, đúng lộ trình.

Không ngừng mở rộng hệ thống đại lý ủy quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc gắn thẻ định danh (thẻ đầu cuối) đối với phương tiện giao thông; thực hiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu từ hệ thống thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Bộ Giao thông vận tải ngay khi hệ thống đưa vào vận hành, khai thác để phục vụ công tác quản lý nhà nước và giám sát hoạt động thu giá.

Thực hiện việc kết nối liên thông, đồng bộ trong toàn hệ thống thu giá điện tử tự động không dừng trên toàn quốc.

Dừng hoạt động thu giá đối với các dự án không thực hiện đúng lộ trình chuyển sang thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo hình thức điện tử tự động không dừng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg cho đến khi triển khai tổ chức thu giá theo hình thức điện tử tự động không dừng.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các tổ chức, cá nhân, chủ phương tiện giao thông triển khai việc thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ điện tử tự động không dừng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg.

Danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của HV Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Theo đó, danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh gồm những tin, tài liệu thuộc phạm vi sau:

1- Thông tin, tài liệu về các cuộc đàm phán và tiếp xúc cấp cao giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với người nước ngoài hoặc với các tổ chức quốc tế về chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học và các lĩnh vực khác, chưa công bố hoặc không công bố.

2- Các đề tài, công trình khoa học do Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu phục vụ công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các lĩnh vực khác; kết quả nghiên cứu có nội dung liên quan đến chế độ chính trị, quốc phòng và an ninh chưa công bố hoặc không công bố.

3- Nội dung làm việc, ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước với lãnh đạo Học viện về các nội dung thuộc Danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật chưa công bố.

4- Văn bản có sử dụng tin, tài liệu thuộc Danh mục bí mật nhà nước độ Tối mật của các cơ quan, tổ chức khác.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt “Đề án Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật” giai đoạn năm 2018-2022.

Đề án nhằm triển khai thực hiện một số giải pháp cơ bản đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật; từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay trong tổ chức thi hành pháp luật, tạo tiền đề cho sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động tổ chức thi hành pháp luật.

Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Đề án là hoàn thiện thể chế về tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật. Cụ thể, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành pháp luật theo hướng, quy định rõ ràng về trách nhiệm, thẩm quyền và nội dung tổ chức thi hành pháp luật; quy định cụ thể cách thức, biện pháp theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước và trong từng ngành, lĩnh vực, phạm vi quản lý của các Bộ, ngành và địa phương.

Năm 2018 - 2019, Bộ Tư pháp chủ trì nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Về đổi mới công tác theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí cụ thể, định lượng để xác định được mức độ thực thi pháp luật, cũng như đánh giá được chính xác, toàn diện hiệu quả, tác động của văn bản quy phạm pháp luật trong thực tiễn.

Từ năm 2018 - 2022, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, hoàn thiện và tổ chức áp dụng thí điểm Khung theo dõi thi hành pháp luật và hệ thu thập dữ liệu phục vụ công tác theo dõi thi hành pháp luật; Bộ trưởng Bộ Tư pháp xây dựng, ban hành Thông tư hướng dẫn tiêu chí đánh giá tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở kết quả áp dụng thí điểm.

Nhiệm vụ và giải pháp khác là tăng cường năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Cụ thể, xác lập quy trình tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân về tình hình thi hành pháp luật một cách thống nhất, có hệ thống, rõ ràng, minh bạch. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến việc ghi nhận, thực thi trách nhiệm Hiến định và luật định của Bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan trong việc xử lý theo thẩm quyền các phản ánh, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông qua hoạt động theo dõi thi hành pháp luật, cơ quan nhà nước tăng cường năng lực phản ứng chính sách, xử lý các vấn đề mới phát sinh, đặc biệt gắn kết với quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy trình chung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong việc tiếp nhận, xử lý kiến nghị, phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về tình hình thi hành pháp luật.

Tăng cường đấu tranh chống buôn lậu trên biển

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình tại buổi làm việc với Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4 về công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển.

Thông báo kết luận nêu rõ, năm 2017, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự cố gắng, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực, toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Trong đó có đóng góp quan trọng của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trong công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn và thực thi pháp luật trên biển, đặc biệt là đối với công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển hàng hóa trái phép trên biển. Trong năm 2017, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã phát hiện, xử lý 49 vụ/56 tàu/254 đối tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, thu giữ trên 24 nghìn tấn quặng, 15 triệu lít dầu DO; tổng số tiền phạt vi phạm hành chính trên 4 tỷ đồng, tiền phát mại số hàng hóa trên 162 tỷ đồng. Về tội phạm ma túy đã phát hiện, xử lý 161 vụ/340 đối tượng, tang vật thu giữ 299 bánh heroin.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả vẫn chưa thực sự tạo được chuyển biến căn bản, tình hình vẫn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, theo thống kê của nhiều tổ chức, hiệp hội, tình trạng buôn lậu xăng dầu, than, khoáng sản làm thất thu ngân sách mỗi năm hàng ngàn tỷ đồng.

Vì vậy, để phát huy hết vai trò là lực lượng chủ công chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển, Phó Thủ tướng yêu cầu các đồng chí Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ Tư lệnh các Vùng phải luôn xác định bên cạnh công tác trọng tâm là bảo vệ chủ quyền, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên biển, công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của lực lượng; phải tổ chức quán triệt và triển khai quyết liệt, có hiệu quả ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo 1389/BQP về công tác này.

Phải thẳng thắn, nghiêm túc đánh giá những tồn tại, hạn chế trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm trên biển của lực lượng. Nhất là trong bối cảnh hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép đối với các mặt hàng trọng điểm như xăng dầu, than khoáng sản, thuốc lá, pháo nổ vẫn diễn biến phức tạp, nhưng các vụ việc được các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý chưa phản ánh hết và đúng với tình hình thực tế; số vụ khởi tố, điều tra xử lý hình sự chiếm tỷ lệ rất thấp. Từ đó đề ra các giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác trong thời gian tới.

Tăng cường giáo dục về tư tưởng chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sỹ trong toàn lực lượng. Củng cố lực lượng theo hướng tập trung, chuyên sâu, phân định rõ trách nhiệm theo địa bàn, lĩnh vực, đề cao vai trò người đứng đầu. Xây dựng và ban hành chế độ, quy trình luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ, chiến sỹ tại các vị trí nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng.

Đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ để đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngay trong nội bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, chiến sỹ chưa hoàn thành nhiệm vụ, tiếp tay, bảo kê cho các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển. Kiên quyết “không có vùng cấm” trong công tác này. Quá trình xử lý các vụ việc cụ thể phải có biện pháp nghiệp vụ giám sát, kiểm tra chặt chẽ, không để nảy sinh trường hợp người xử lý vi phạm thông đồng, móc ngoặc với đối tượng vi phạm để kê khai không trung thực về hàng hóa bị thu giữ nhằm hợp thức hồ sơ làm giảm mức vi phạm.

Nhận diện, dự báo kịp thời các thủ đoạn, phương thức buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển để chủ động xây dựng các kế hoạch, phương án đấu tranh phù hợp, cụ thể; triển khai các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt Kế hoạch 410/KH-BCĐ389 ngày 10 tháng 6 năm 2017 của Ban Chỉ đạo 389 quốc gia về chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu.

Phó Thủ tướng yêu cầu lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các lực lượng chức năng liên quan, (Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan...) làm tốt công tác thu thập, chia sẻ thông tin, điều tra cơ bản, nắm chắc đối tượng, địa bàn, phương thức, thủ đoạn để cùng xác lập các chuyên án lớn, làm chuyên sâu và phải mở rộng điều tra sau khi phá án nhằm bảo đảm đánh đúng, đánh trúng các đầu nậu buôn lậu, lợi dụng chính sách tạm nhập, tái xuất để vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển, trọng tâm là các đối tượng trong nước.

Kịp thời tham mưu, đề xuất với Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, Bộ Quốc phòng trong việc sửa đổi, hoàn thiện cơ chế chính sách, các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa trên biển. Tập trung xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển, đặc biệt là xây dựng, hoàn thiện Luật Cảnh sát biển Việt Nam, trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp cuối năm 2018.

Giao nhiệm vụ thường trực BCĐ Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp vừa ký quyết định giao ông Nguyễn Sỹ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.

Theo Quyết định 2092/QĐ-TTg ngày 23/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Ban Chỉ đạo này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ xây dựng chương trình, kế hoạch đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp trong phạm vi cả nước. Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn và theo dõi việc thực hiện các chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt.

Bên cạnh đó, phối hợp với các cơ quan chức năng, tổ chức nghiên cứu các mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách phục vụ cho việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Đồng thời, sơ kết, tổng kết, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo định kỳ và đột xuất về tình hình đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; theo dõi việc thí điểm chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Xem xét đầu tư Khu bến cảng Mỹ Thủy (Quảng Trị)

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến chỉ đạo về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Khu bến cảng Mỹ Thủy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn UBND tỉnh Quảng Trị thực hiện hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Khu bến cảng Mỹ Thủy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; trên cơ sở đó, chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các cơ quan liên quan tổ chức thẩm định hồ sơ dự án, lập báo cáo thẩm định và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chủ trương đầu tư dự án theo quy định của pháp luật.

Cảng biển Mỹ Thủy, tỉnh Quảng Trị đã được quy hoạch phát triển đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Quyết định 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ).

Theo Quyết định 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 điều chỉnh Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, khu bến Mỹ Thủy là khu bến cảng biển tiềm năng, phát triển có điều kiện với chức năng chính là chuyên dùng phục vụ khu công nghiệp và tiếp chuyển hàng quá cảnh cho Lào, Đông Bắc Thái Lan. Quy mô và tiến trình phát triển phải phù hợp với nhu cầu thị trường, khả năng huy động vốn của chủ đầu tư, đồng thời bảo đảm sự đồng bộ về cơ sở hạ tầng kết nối đến cảng (đặc biệt là luồng vào, đê chắn sóng, ngăn cát...)./.