(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Nhiều chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn sẽ được hưởng nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích của Nhà nước.

Theo quy định, doanh nghiệp được nhận ưu đãi và hỗ trợ là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và có Dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; Dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư và Dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư.

Các doanh nghiệp trên sẽ được Nhà nước ưu đãi và hỗ trợ thông qua miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; hỗ trợ tập trung đất đai; tiếp cận, hỗ trợ tín dụng; hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường; hỗ trợ đầu tư cơ sở; cung cấp dịch vụ công và đầu tư kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn.

Tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng

Theo quy định, doanh nghiệp có dự án nông nghiệp (đặc biệt ưu đãi đầu tư, ưu đãi đầu tư và khuyến khích đầu tư) được Nhà nước giao đất hoặc được chuyển mục đích đất để làm nhà ở cho người lao động theo quy định tại Điều 55 Luật Đất đai được miễn tiền chuyển mục đích sử dụng đất đối với diện tích đất được chuyển mục đích để xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc tại dự án; được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đó sau khi được chuyển đổi.

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư thì dự án đó được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 15 năm đầu kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 07 năm tiếp theo.

Doanh nghiệp có dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư thì dự án đó được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 11 năm đầu kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước và giảm 50% tiền thuê đất, thuê mặt nước trong 05 năm tiếp theo.

Giúp tiếp cận nguồn vốn

Để giúp các doanh nghiệp có dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tiếp cận được nguồn vốn, ngân sách địa phương sẽ hỗ trợ lãi suất vay thương mại sau khi dự án hoàn thành với mức hỗ trợ bằng chênh lệch lãi suất vay thương mại so với lãi suất tín dụng Nhà nước ưu đãi đầu tư tính trên số dư nợ thực tế tại thời điểm xem xét hồ sơ hỗ trợ.

Thời gian hỗ trợ lãi suất tính từ ngày bắt đầu giải ngân theo hợp đồng tín dụng với ngân hàng thương mại: Tối đa 8 năm đối với dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư; tối đa 6 năm đối với dự án nông nghiệp ưu đãi đầu tư; tối đa 5 năm đối với dự án nông nghiệp khuyến khích đầu tư. Trường hợp dự án của doanh nghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập thì thời gian hỗ trợ lãi suất là 8 năm; dự án mà doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi giá trị thì được áp dụng hỗ trợ lãi suất theo chu kỳ sản xuất của sản phẩm.

Hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao

Nhà nước cũng hỗ trợ 80% kinh phí thực hiện, nhưng không quá 300 triệu đồng/đề tài/bản quyền/công nghệ đối với các doanh nghiệp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, mua bản quyền công nghệ, mua công nghệ hoặc mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, cải tiến công nghệ, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, tiết kiệm năng lượng.

Muốn được hưởng chính sách trên, doanh nghiệp phải: Có doanh thu năm trước tối thiểu bằng 10 lần mức hỗ trợ; các bản quyền, công nghệ doanh nghiệp đề xuất mua phải phù hợp với định hướng phát triển sản xuất của doanh nghiệp đã đăng ký.

Nghị định quy định rõ, trường hợp đề tài nghiên cứu khoa học được ứng dụng trong thực tế thì được thanh toán bằng mức hỗ trợ; trường hợp không được áp dụng trong thực tế thì được thanh toán bằng 50% mức hỗ trợ.

Nghị định cũng nêu rõ, doanh nghiệp có dự án đầu tư cơ sở chăn nuôi bò sữa, bò thịt được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 5 tỷ đồng/dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng về xử lý chất thải, giao thông, điện, nước, nhà xưởng và mua thiết bị.

Ngoài hỗ trợ hạ tầng trên, nếu doanh nghiệp nhập, bò giống cao sản để nuôi trực tiếp hoặc liên kết nuôi với hộ gia đình thì được hỗ trợ bổ sung là 10 triệu đồng/con.

Thay thế Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 53/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 58/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự.

Cụ thể, thay thế Phụ lục II Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép tại Nghị định số 58/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ bằng Phụ lục II Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép kèm theo Nghị định này.

Danh mục trên gồm: Máy in sử dụng các bộ phận in như khuôn in (bát chữ), ống in và các bộ phận in khác; máy in khác, máy copy (copying machines) và máy fax, có hoặc không kết hợp với nhau; bộ phận và các phụ kiện của chúng; máy xử lý dữ liệu tự động và các khối chức năng của chúng; đầu đọc từ tính hay đầu đọc quang học, máy truyền dữ liệu lên các phương tiện truyền dữ liệu dưới dạng mã hóa và máy xử lý những dữ liệu này, chưa được chi tiết hay ghi ở nơi khác; bộ phận và phụ kiện (trừ vỏ, hộp đựng và các loại tương tự) chỉ dùng hoặc chủ yếu dùng với các máy thuộc các nhóm từ 84.70 đến 84.72;...

Về áp dụng Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, Nghị định nêu rõ: Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép chỉ áp dụng đối với các sản phẩm mật mã dân sự mà cả mã số HS, tên gọi và mô tả chức năng mật mã trùng với mã số HS, tên gọi và mô tả chức năng mật mã của hàng hóa thuộc Danh mục.

Trường hợp có sự khác biệt trong việc xác định mã số hàng hóa tại Danh mục ban hành kèm theo Nghị định này và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng (Ban Cơ yếu Chính phủ) để quyết định mã số HS đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự đã được cấp cho doanh nghiệp tiếp tục có hiệu lực theo thời hạn ghi trên Giấy phép đối với sản phẩm mật mã dân sự mà tên gọi phù hợp với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Cơ quan Hải quan căn cứ vào Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự đã được cấp và thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để xác định mã số HS và giải quyết thủ tục thông quan cho doanh nghiệp.

Kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và các hạn mức vay nợ năm 2018

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 437/QĐ-TTg về việc kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và các hạn mức vay nợ năm 2018.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch vay của Chính phủ năm 2018 là 384.000 tỷ đồng, gồm: Vay trong nước 275.970 tỷ đồng và nước ngoài 108.030 tỷ đồng, trong đó, vay cho cân đối ngân sách Nhà nước 341.770 tỷ đồng, trong đó vay để bù đắp bội chi là 195.000 tỷ đồng và vay để trả nợ gốc là 146.770 tỷ đồng; vay về cho vay lại 42.230 tỷ đồng.

Phê duyệt kế hoạch trả nợ của Chính phủ năm 2018 là 256.769 tỷ đồng. Trong đó, trả nợ trực tiếp của Chính phủ năm 2018 là 256.769 tỷ đồng; trả nợ của các dự án vay lại 18.561 tỷ đồng.

Phê duyệt hạn mức vay được Chính phủ bảo lãnh và vay thương mại trung dài hạn nước ngoài của các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay tự trả năm 2018, bao gồm: Hạn mức phát hành trái phiếu trong nước được Chính phủ bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam tối đa 24.430 tỷ đồng; hạn mức phát hành trái phiếu trong nước được Chính phủ bảo lãnh của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam tối đa 9.670 tỷ đồng; hạn mức bảo lãnh vay trong nước (rút vốn ròng) của Chính phủ cho các dự án tối đa là 2.000 tỷ đồng; hạn mức vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh tối đa là 700 triệu USD; hạn mức vay thương mại nước ngoài của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay tự trả tối đa là 5.000 triệu USD; dư nợ vay ngắn hạn của các doanh nghiệp cuối năm 2018 không vượt quá số dư vào thời điểm 31/12/2017.

Hạn mức vay của chính quyền địa phương tối đa là 21.514 tỷ đồng. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính tổ chức thực hiện kế hoạch vay và trả nợ Chính phủ bảo đảm theo đúng kế hoạch được giao.

Đồng bộ các giải pháp xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chương trình công tác năm 2018 của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Theo đó, năm 2018 Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia tập trung chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu cả nước có ít nhất 39% số xã (khoảng 3.500 xã) đạt chuẩn nông thôn mới, tăng khoảng 5% so với năm 2017; có ít nhất 54 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng khoảng 10 đơn vị so với năm 2017; bình quân tiêu chí/xã cả nước tăng thêm tối thiểu 0,5 tiêu chí/xã so với năm 2017; giảm số xã đạt dưới 05 tiêu chí xuống dưới 60 xã.

Tiếp tục phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1-1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm; hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3-4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020.

Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp để huy động nguồn lực thực hiện 02 chương trình mục tiêu quốc gia theo hướng bảo đảm cân đối phân bổ nguồn lực từ ngân sách Nhà nước cho các nội dung, hoạt động trọng tâm, có sức lan tỏa; đa dạng hóa các nguồn vốn theo hướng xã hội hóa, huy động nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.

Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, thực hiện đa dạng hoá các nguồn vốn thông qua hình thức lồng ghép các dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; tăng cường các hình thức hợp tác công tư và xã hội hóa để thu hút nguồn vốn đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ môi trường, giao thông, hạ tầng thương mại, cung cấp nước sạch, dịch vụ văn hóa - thể thao; ưu tiên bố trí nguồn lực huy động xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản theo yêu cầu của Quốc hội tại Nghị quyết số 32/2016/QH14 ngày 23/11/2016 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Thực hiện công khai các khoản đóng góp của dân, theo nguyên tắc tự nguyện và do Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua.

Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, huy động nguồn lực từ cộng đồng và lồng ghép các chương trình khác để giảm nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo và từng bước thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Đẩy mạnh phát triển ngành nghề nông thôn

Đẩy mạnh triển khai đồng bộ và có hiệu quả các chương trình, đề án, nội dung được lồng ghép, tích hợp vào thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

Phát triển sản xuất gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp; tiếp tục triển khai các mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị hàng hóa gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, trước hết tập trung vào các nhóm sản phẩm chủ lực (cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện, xã) trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm chủ lực; củng cố và tổ chức lại sản xuất, phát triển các hợp tác xã kiểu mới, hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012; đẩy mạnh phát triển ngành nghề nông thôn trong xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn.

Đồng thời xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các huyện nghèo, xã nghèo (xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu) và thôn, bản đặc biệt khó khăn; khuyến khích và mở rộng hoạt động tạo việc làm tại chỗ cho lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người dân trên địa bàn; phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tại các xã nghèo.

Bên cạnh đó chú trọng bảo vệ môi trường và tạo cảnh quan nông thôn sáng - xanh - sạch - đẹp, hiện đại, hợp lý và giữ gìn được những đặc trưng và bản sắc nông thôn truyền thống; đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án thí điểm “Hoàn thiện và nhân rộng mô hình bảo vệ môi trường tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa giai đoạn 2017-2020”; triển khai các giải pháp đồng bộ để tiếp tục nâng cao tỷ lệ hộ dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch tập trung; nâng cao tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt ở nông thôn; tiếp tục phát triển và nhân rộng các mô hình đường hoa - cây xanh từ việc nhân rộng mô hình vườn mẫu - khu dân cư kiểu mẫu; đẩy mạnh các giải pháp thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 để giảm thiểu ô nhiễm môi trường xung quanh các khu xử lý môi trường, nhất là ở những công trình, cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc cụm công nghiệp, làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm cao.

Tập trung xử lý các điểm nóng về an ninh trật tự xã hội ở nông thôn; xây dựng và triển khai các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tiêu chí an ninh, trật tự trong xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự xã hội, an toàn giao thông trên địa bàn nông thôn; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và người có uy tín trong cộng đồng.

Triển khai sâu rộng, thiết thực các phong trào thi đua

Đổi mới phương pháp truyền thông để nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền; thường xuyên cập nhật, đưa tin về các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về xây dựng nông thôn mới, về giảm nghèo bền vững trên các phương tiện thông tin đại chúng để phổ biến và nhân rộng.

Tiếp tục triển khai sâu rộng và thiết thực các phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Tổ chức lồng ghép các chương trình, hoạt động cụ thể trong tuyên truyền, vận động về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững ở các cấp thông qua các đoàn thể chính trị, xã hội. Tiếp tục triển khai hiệu quả các cuộc thi báo chí viết về nông thôn mới và giảm nghèo bền vững; thực hiện các hình thức khuyến khích, động viên, khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân điển hình trong phong trào xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

Mở rộng triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững thông qua tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế, trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững; hợp tác tư vấn hỗ trợ kỹ thuật và vay vốn từ các đối tác phát triển quốc tế để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia...

Thủ tướng yêu cầu các bộ triển khai ngay nhiệm vụ Chính phủ giao

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký văn bản 522/TTg-TH yêu cầu các bộ triển khai ngay nhiệm vụ Chính phủ giao.

Trên cơ sở kết quả  kiểm tra của Tổ công tác đã báo cáo Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 và theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - Tổ trưởng Tổ công tác, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ được kiểm tra trong tháng 3 triển khai thực hiện ngay một số công việc.

Đối với Bộ Tư pháp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu kiểm soát chặt chẽ việc quy định các điều kiện kinh doanh (ĐKKD) của các bộ thông qua hoạt động thẩm định; có ý kiến rõ ràng và kiên quyết từ chối các văn bản quy phạm pháp luật quy định về ĐKKD còn chung chung, chồng chéo, bất cập, không cụ thể, không lượng hóa, gây cản trở, khó khăn gia nhập thị trường của doanh nghiệp; tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ và có giải pháp cụ thể để giải quyết dứt điểm các vụ việc thi hành án dân sự phức tạp, kéo dài theo đúng quy định tại Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ.

Đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ là cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong các vụ kiện đầu tư quốc tế, tranh chấp quốc tế; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ để có giải pháp xử lý dứt điểm các vụ kiện ra các cơ quan tài phán quốc tế, nhất là những vụ việc phức tạp; tham mưu, đề xuất với Chính phủ các giải pháp phòng ngừa khiếu kiện, tranh chấp đầu tư quốc tế; nâng cao vai trò và năng lực của cán bộ tư pháp trung ương, địa phương trong xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài.

Bộ Tư pháp chủ trì nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị các giải pháp hữu hiệu để cải thiện chỉ số giải quyết tranh chấp hợp đồng và giải quyết phá sản doanh nghiệp, trong đó chú trọng tới phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm và đề xuất các giải pháp phòng ngừa, hạn chế hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực tư pháp, nhất là lĩnh vực luật sư, công chứng, đấu giá tài sản, thi hành án dân sự, lý lịch tư pháp; tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đặc biệt là vụ việc phức tạp, kéo dài để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.

Xử lý nghiêm trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu khẩn trương rà soát đề án tuyển sinh của các cơ sở đào tạo để kịp thời phát hiện tổ hợp tuyển sinh không phù hợp với ngành đào tạo; thanh tra, kiểm tra và giám sát chặt chẽ quá trình tuyển sinh và đào tạo của các trường; xử lý nghiêm theo quy định và cho dừng tuyển sinh đối với cơ sở đào tạo cố tình đưa ra nhiều tổ hợp xét tuyển không khoa học, không phù hợp, chỉ nhằm mục đích tăng số lượng học sinh, ảnh hưởng đến chất lượng, yêu cầu đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ giáo viên của các địa phương; kiến nghị với các cấp có thẩm quyền và cơ quan chức năng xử lý nghiêm các địa phương tuyển dụng, sử dụng giáo viên không đúng quy định hiện hành của pháp luật; phối hợp với Bộ Nội vụ và các địa phương tính toán, có lộ trình cụ thể và giải pháp phù hợp trong việc cắt giảm biên chế giáo viên, tránh khủng hoảng thừa hoặc thiếu, tránh tiêu cực trong tuyển dụng, sử dụng giáo viên.

Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm đạo đức, phẩm chất nhà giáo, ảnh hưởng đến hình ảnh đội ngũ nhà giáo đối với xã hội; khẩn trương hoàn thiện các quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp học với các tiêu chuẩn/tiêu chí cụ thể, trong đó có tiêu chí về đạo đức nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo có phản ứng và lên tiếng kịp thời để bảo vệ danh dự, uy tín, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhà giáo theo quy định pháp luật; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm đối với các trường hợp xúc phạm danh dự nhà giáo, hành hung giáo viên để răn đe, phòng ngừa; phối hợp chặt chẽ với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy tắc ứng xử văn hóa, xây dựng môi trường an toàn, thân thiện, lành mạnh trong các cơ sở giáo dục theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017.

Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định mới về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Giáo sư, Phó giáo sư, bảo đảm công khai, minh bạch, không có tiêu cực để tạo động lực cho các nhà khoa học cống hiến, có nhiều công trình nghiên cứu hữu ích cho xã hội.

Tiếp tục rà soát kỹ các điều kiện kinh doanh không hợp lý để cắt giảm, bãi bỏ

Đối với việc rà soát, đơn giản, cắt giảm và bãi bỏ điều kiện kinh doanh (ĐKKD) của Bộ được kiểm tra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tiếp tục rà soát kỹ các ĐKKD không hợp lý, không cần thiết, không cụ thể, không lượng hóa được để tiếp tục đơn giản, cắt giảm hoặc bãi bỏ, bảo đảm đạt 50% theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; việc đơn giản, cắt giảm hoặc bãi bỏ các ĐKKD phải giải quyết được căn cơ những bất cập, tồn tại hiện nay và đạt được mục tiêu về tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tham gia thị trường.

Khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi, bổ sung các Luật quy định về ĐKKD để kịp thời đưa vào chương trình xây dựng Luật của năm 2019; xây dựng, trình Chính phủ Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định sửa nhiều Nghị định quy định về ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ. 

Thủ tướng giao các bộ, ngành triển khai công tác pháp luật, khoa học và công nghệ

Thực hiện kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động chất vấn tại phiên họp thứ 22 , Thủ tướng Chính phủ đã giao các bộ, ngành, địa phương thực hiện một số nhiệm về xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật; khoa học và công nghệ.

Cụ thể, về công tác xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành thực hiện nghiêm quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đối với việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 và điều chỉnh Chương trình năm 2018, các quy định về xây dựng nội dung, đánh giá tác động, lấy ý kiến về chính sách; phối hợp với Bộ Tư pháp trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật năm 2015.

Các bộ, ngành dành thời gian thảo luận trong tập thể lãnh đạo bộ, cơ quan, nâng cao chất lượng xem xét, quyết định về các chính sách lớn, những vấn đề còn ý kiến khác nhau, hồ sơ từng dự án luật trước khi trình Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội; hồ sơ của Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần bảo đảm đủ thành phần hồ sơ theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, bảo đảm chất lượng, tính khả thi, nguồn lực thực hiện.

Bộ Tư pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định đối với các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Chính phủ.

Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm tiến độ, chất lượng các đề nghị, dự án, dự thảo; tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan của Quốc hội trong quá trình lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, soạn thảo, chỉnh lý, trình dự án luật, pháp lệnh, hạn chế việc lùi thời hạn trình, rút dự án ra khỏi Chương trình.

Phổ biến bằng nhiều hình thức sinh động

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và UBND các cấp đẩy mạnh hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức sinh động, phong phú và thiết thực; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức tôn trọng, tuân thủ, chấp hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện gắn với triển khai bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Các bộ, ngành và UBND các cấp tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành và địa phương; nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận pháp chế, Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật thuộc bộ, ngành, địa phương trong công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh và soạn thảo văn bản pháp luật; quan tâm lấy ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học, đối tượng chịu tác động của văn bản để bảo đảm phù hợp với thực tiễn.

Cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam

Về lĩnh vực khoa học và công nghệ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nhanh quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường khoa học, công nghệ; ban hành các chính sách cụ thể để hỗ trợ chuyển giao công nghệ, tăng cường kết nối giữa viện nghiên cứu, trường đại học với các doanh nghiệp nhằm nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; tăng cường công khai, minh bạch nhiệm vụ khoa học công nghệ các cấp; bảo đảm hài hòa giữa nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn.

Quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ; nâng cao hiệu quả chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ khoa học và công nghệ, thu hút trí thức là người Việt Nam ở nước ngoài; quan tâm phát triển khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp sáng tạo trong cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam; tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để tiếp tục cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam.

Bảo đảm chi ngân sách Nhà nước hàng năm cho khoa học, công nghệ; tiếp tục huy động nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, nguồn lực xã hội để đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

Khẩn trương hoàn thiện cơ sở hạ tầng để tập trung thu hút đầu tư vào các khu công nghệ cao; đẩy mạnh hoạt động ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao và lĩnh vực công nghệ cao; khẩn trương xây dựng Chương trình trọng điểm cấp quốc gia về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phục vụ các nhà khoa học, doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng, làm chủ và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực có liên quan.

Tháo gỡ vướng mắc trong xử lý tro xỉ của một số nhà máy nhiệt điện

Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc trong xử lý tro xỉ của một số dự án nhà máy nhiệt điện.

Cụ thể, về diện tích bãi xỉ của các nhà máy nhiệt điện BOT, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Dự án Nhà máy nhiệt điện BOT Hải Dương, Dự án Nhà máy nhiệt điện BOT Vĩnh Tân I đang thi công được áp dụng quy định bãi xỉ tại thời điểm ký kết hợp đồng BOT; đối với các dự án nhà máy nhiệt điện đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, đang thương thảo chuẩn bị ký hợp đồng BOT (Nam Định I, Nghi Sơn II, Vân Phong I, Vũng Áng II, Vĩnh Tân III, Sông Hậu II) được giữ nguyên diện tích bãi xỉ như đã phê duyệt tại báo cáo nghiên cứu khả thi.

Bộ Công Thương nghiên cứu, hướng dẫn thực hiện các biện pháp để giảm dần diện tích bãi xỉ của các dự  án nhà máy nhiệt điện trên.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các chủ cơ sở phát thải lập, phê duyệt đề án xử lý, tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm hướng dẫn chủ cơ sở phát thải lập, phê duyệt đề án xử lý, tiêu thụ tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón; tổ chức kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện đề án, xử lý nghiêm các vi phạm gây ô nhiễm môi trường.

Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan sớm hoàn thành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, hóa chất, phân bón làm vật liệu san nền và đường giao thông; tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách khuyến khích sử dụng vật liệu xây không nung, hạn chế sử dụng vật liệu nung.

Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp các Bộ: Công Thương, Xây dựng hướng dẫn các chủ cơ sở phát thải thực hiện xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao làm vật liệu xây dựng theo quy định về môi trường.

Ngày 12/4/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hóa chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong các công trình xây dựng tại Quyết định số 452/QĐ-TTg. Mục tiêu của Đề án là đến năm 2020 phải xử lý và sử dụng tro, xỉ, thạch cao FGD, thạch cao PG làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và sử dụng trong các công trình xây dựng đạt khoảng 52% tổng lượng tích luỹ (khoảng 75 triệu tấn, bao gồm 56 triệu tấn tro, xỉ nhiệt điện; 2,5 triệu tấn thạch cao FGD; 16,5 triệu tấn thạch cao PG). Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện các quy định tại Quyết định số 452/QĐ-TTg còn một số vướng mắc.

Giải quyết dứt điểm tố cáo của công dân TP Hà Nội

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Bộ Công an khẩn trương xác minh, giải quyết dứt điểm tố cáo của ông Nguyễn Trung Dật (Hà Nội) bảo đảm khách quan, đúng quy định của pháp luật.

Về việc ông Nguyễn Trung Dật (cán bộ Quân đội đã nghỉ hưu, đảng viên; trú tại xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội) có đơn tố cáo ông Nguyễn Trung Chi, Chủ tịch UBND xã Canh Nậu đe dọa giết do ông đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng đất đai, kinh tế ở địa phương, Thủ tướng đã có ý kiến chỉ đạo Bộ Công an xem xét, xử lý đơn tố cáo của ông Nguyễn Trung Dật (văn bản số 8422/VPCP-V.I ngày 10/8/2017).

Tuy nhiên, đến nay ông Nguyễn Trung Dật có đơn gửi Thủ tướng Chính phủ phản ánh tố cáo của ông chưa được giải quyết và đề nghị thông báo cho ông biết kết quả giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật.

Về việc này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an khẩn trước xác minh, giải quyết dứt điểm nội dung tố cáo của ông Nguyễn Trung Dật bảo đảm khách quan, đúng quy định của pháp luật, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho ông Nguyễn Trung Dật biết theo quy định của Luật Tố cáo trước ngày 15/5/2018./.