(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Tăng lương cơ sở từ ngày 1/7/2018

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 72/2018/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động (sau đây gọi chung là người hưởng lương, phụ cấp) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.

Theo Nghị định, từ ngày 1/7/2018, mức lương cơ sở là 1.390.000 đồng/tháng, thay cho mức cũ là 1.300.000 đồng/tháng.

Mức lương cơ sở này dùng để làm căn cứ cho việc tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định 72/2018/NĐ-CP; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Người hưởng lương, phụ cấp trên gồm:

1. Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008.

2. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008.

3. Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật viên chức năm 2010.

4. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, gồm:

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp.

- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong số lượng người làm việc đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

5. Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4 /2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

6. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ và công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

7. Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

8. Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

9. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

Kinh phí thực hiện

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương trên cơ sở dự toán ngân sách nhà nước được giao, tiếp tục thực hiện các quy định về chính sách tạo nguồn cải cách tiền lương kết hợp triệt để tiết kiệm chi gắn với sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, đẩy mạnh tự chủ về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, phấn đấu tăng các nguồn thu theo quy định và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương chưa sử dụng hết năm 2017 chuyển sang (nếu có) để bảo đảm tự cân đối nhu cầu tăng chi do điều chỉnh mức lương cơ sở năm 2018.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2018 tăng thêm so với dự toán năm 2017 được cấp có thẩm quyền giao; sử dụng nguồn 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương (không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết) thực hiện so với dự toán năm 2017 do Thủ tướng Chính phủ giao; sử dụng nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương năm 2017 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có).

Bên cạnh đó sử dụng nguồn còn dư (nếu có) sau khi đảm bảo nhu cầu điều chỉnh tiền lương đến mức lương cơ sở 1.300.000 đồng/tháng, từ các nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao năm 2017; kết hợp triệt để tiết kiệm chi gắn với sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, đẩy mạnh tự chủ về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập; một phần nguồn thu được để lại theo chế độ của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương (không kể thu tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết) dự toán năm 2018 so với dự toán năm 2017 do Thủ tướng Chính phủ giao.

Đối với một số địa phương ngân sách khó khăn, sau khi thực hiện các quy định trên mà vẫn thiếu nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2018 thì ngân sách trung ương bổ sung số thiếu để địa phương thực hiện.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018.

Nghị định này thay thế Nghị định số 47/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình tích trữ nước

Theo Nghị định, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình tích trữ nước được miễn tiền thuê đất khi nhà nước cho thuê đất xây dựng công trình. Tổ chức thủy lợi cơ sở đầu tư xây dựng công trình tích trữ nước được hỗ trợ tối đa 100% chi phí thiết kế và chi phí máy thi công.

Các công trình trên phải phù hợp với quy hoạch chung xây dựng xã.

Đối với trường hợp xây dựng công trình tích trữ nước được hỗ trợ tối đa 100% chi phí thiết kế và chi phí máy thi công, công trình tích trữ nước phải đảm bảo cấp nước, tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho tối thiểu 3 thành viên của tổ chức thủy lợi cơ sở; được tất cả các thành viên hưởng lợi đồng thuận đóng góp phần kinh phí còn lại; tổ chức thủy lợi cơ sở tự quản lý, khai thác công trình sau đầu tư.

Hỗ trợ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước

Nghị định nêu rõ, hỗ trợ tối đa 50% chi phí vật liệu, máy thi công và thiết bị để đầu tư xây dựng hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn, mức hỗ trợ không quá 40 triệu đồng/ha; hỗ trợ tối đa 50% chi phí để san phẳng đồng ruộng, mức hỗ trợ không quá 10 triệu đồng/ha.

Để được hỗ trợ, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện: 1- Đối với cá nhân: Quy mô khu tưới phải đạt từ 0,3 ha trở lên, riêng khu vực miền núi từ 0,1 ha trở lên; việc hỗ trợ cho cá nhân được thông qua tổ chức thủy lợi cơ sở; 2- Đối với tổ chức thủy lợi cơ sở: Quy mô khu tưới phải đạt từ 02 ha trở lên, riêng khu vực miền núi từ 01 ha trở lên và phải có hợp đồng liên kết với hộ gia đình hoặc cá nhân trực tiếp sản xuất; 3- Hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước phục vụ các loại cây trồng là cây chủ lực của quốc gia, địa phương, có lợi thế, phù hợp với nhu cầu thị trường và thích ứng với biến đổi khí hậu từng vùng, miền.

Hỗ trợ đầu tư xây dựng trạm bơm điện, cống và kiên cố kênh mương

Hỗ trợ đầu tư xây dựng cống, kiên cố kênh mương: Hỗ trợ tối đa 70%, riêng vùng trung du, miền núi, Tây Nguyên hỗ trợ tối đa 90% tổng giá trị đầu tư xây dựng công trình.

Hỗ trợ đầu tư xây dựng trạm bơm điện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Hỗ trợ tối đa 40% giá trị  mua máy móc, thiết bị đầu tư xây dựng.

Ngân sách trung ương hỗ trợ địa phương thực hiện chính sách thông qua chương trình, dự án trực tiếp hoặc lồng ghép trong các chương trình, dự án có liên quan.

Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 8 tỉnh

Chính phủ vừa ban hành các Nghị quyết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) của 8 tỉnh: Yên Bái; An Giang; Bình Dương; Lai Châu; Kon Tum; Cao Bằng; Lào Cai; Sơn La.

Chính phủ yêu cầu UBND 8 tỉnh trên xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ nghiêm ngặt; điều tiết phân bổ nguồn lực, trước hết là nguồn ngân sách nhà nước bảo đảm lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực bảo vệ đất trồng lúa, đất rừng; có chính sách, biện pháp phù hợp để giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập, để người trồng lúa yên tâm sản xuất; tăng đầu tư hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các khu vực.

Bên cạnh đó, quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng đất để tập trung cho phát triển kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển dịch vụ, đô thị để tăng nguồn thu cho ngân sách; đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất; khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, khắc phục tình trạng bỏ hoang đất đã giao và đã cho thuê; tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ quỹ đất được quy hoạch phát triển đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ đất, khắc phục tình trạng mất cân đối trong cơ cấu sử dụng đất giữa đất ở với đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; kiên quyết không giải quyết giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với các trường hợp có trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kiểm tra, xử lý các trường hợp đã được giao đất, cho thuế đất nhưng không sử dụng, sử dụng sai mục đích theo quy định của pháp luật đất đai...

Hàng tạm nhập, tái xuất phải chịu sự giám sát cho tới khi tái xuất ra khỏi Việt Nam

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương, trong đó quy định cụ thể về tạm nhập, tái xuất hàng hóa.

Theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP, thương nhân Việt Nam được quyền kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh theo các quy định sau:

1- Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện, thương nhân phải đáp ứng điều kiện theo quy định.

2- Hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng biện pháp hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, trừ trường hợp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tự động, thương nhân phải được Bộ Công Thương cấp Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất. Hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép được quy định tại Điều 19, Điều 20 Nghị định này.

3- Trường hợp hàng hóa không thuộc quy định tại điểm 1, 2 trên thì thương nhân thực hiện thủ tục tạm nhập, tái xuất tại cơ quan hải quan.

Nghị định nêu rõ đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chỉ được thực hiện tạm nhập, tái xuất hàng hóa theo quy định tại Điều 15 Nghị định này, không được thực hiện hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa.

Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan từ khi tạm nhập cho tới khi hàng hóa thực hiện tái xuất ra khỏi Việt Nam; không chia nhỏ hàng hóa vận chuyển bằng công-ten-nơ trong suốt quá trình vận chuyển hàng hóa từ cửa khẩu tạm nhập đến khu vực chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, địa điểm tái xuất thuộc cửa khẩu, lối mở biên giới theo quy định.

Trường hợp do yêu cầu vận chuyển cần phải thay đổi hoặc chia nhỏ hàng hóa vận chuyển bằng công-ten-nơ để tái xuất thì thực hiện theo quy định của cơ quan hải quan.

Giới hạn thời gian tạm nhập, tái xuất

Nghị định quy định hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá 60 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản đề nghị gia hạn gửi Chi cục Hải quan nơi thực hiện thủ tục tạm nhập; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá 30 ngày và không quá 2 lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập, tái xuất.

Quá thời hạn nêu trên, thương nhân phải tái xuất hàng hóa ra khỏi Việt Nam hoặc tiêu hủy. Trường hợp nhập khẩu vào Việt Nam thì thương nhân phải tuân thủ các quy định về quản lý nhập khẩu hàng hóa và thuế.

Nghị định quy định rõ, kinh doanh tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: Hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng nhập khẩu ký với thương nhân nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. Hợp đồng xuất khẩu có thể ký trước hoặc sau hợp đồng nhập khẩu.

Quản lý tài sản hình thành từ thực hiện nhiệm vụ KHCN

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 70/2018/NĐ-CP quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.

Nghị định này quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước gồm: Tài sản trang bị để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước; tài sản trang bị để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng một phần ngân sách nhà nước; tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng toàn bộ ngân sách nhà nước; tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng một phần ngân sách nhà nước.

Về nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành từ việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước, tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ ngân sách cấp là tài sản công. Việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan. 

Tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ ngân sách hỗ trợ là tài sản đồng sở hữu; việc quản lý, sử dụng tài sản được thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các bên còn lại và thuyết minh nhiệm vụ khoa học và công nghệ được phê duyệt theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản là kết quả của việc triển khai thực hiện nhiệm vụ phải bảo đảm chặt chẽ, có hiệu quả; công khai, minh bạch.

Tài sản hình thành thông qua việc triển khai nhiệm vụ ngân sách cấp hoặc ngân sách hỗ trợ là tài sản đặc biệt tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Khi kết thúc nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước, tài sản hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ đạt tiêu chuẩn là tài sản cố định được xử lý theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Danh mục chất ma túy và tiền chất

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 73/2018/NĐ-CP quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Theo Nghị định, Danh mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục II: Các chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục III: Các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Danh mục IV: Các tiền chất.

Nghị định nêu rõ các tiền chất sử dụng vì mục đích quốc phòng, an ninh do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.

Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 15/5/2018 thay thế Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh hai tiền chất N-Phenethyl-4-piperidinone (NPP) và 4-ANPP thực hiện các quy định về quản lý tiền chất theo Nghị định này và các văn bản có liên quan kể từ ngày 1/7/2018.

Tổ chức, nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ trên tàu

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 75/2018/NĐ-CP quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và trang phục, phù hiệu của lực lượng bảo vệ trên tàu trên mạng đường sắt quốc gia.

Theo Nghị định, tổ chức của lực lượng bảo vệ trên tàu do doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt quyết định thành lập để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trên tàu. Lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ trên tàu được tổ chức thành các Đội, Tổ bảo vệ phù hợp với quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ bảo vệ trên tàu là thành viên các Đội, Tổ bảo vệ phải đảm bảo các tiêu chuẩn là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có trình độ văn hóa tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và đủ sức khỏe thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trên tàu; đã được huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ trên tàu và có Giấy chứng nhận hoàn thành khóa huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ trên tàu do cơ quan có thẩm quyền cấp; đã được bồi dưỡng về nghiệp vụ an toàn giao thông đường sắt do doanh nghiệp kinh doanh vận tải tổ chức.

Nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ trên tàu

Lực lượng bảo vệ trên tàu có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, đề xuất, kiến nghị các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên tàu với doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt.

Thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi sau: Đe dọa an toàn chạy tàu; ném các vật từ trên tàu xuống; làm hư hỏng trang thiết bị đoàn tàu, mất vệ sinh trên tàu; gây rối trật tự công cộng trên tàu; đe dọa sức khỏe, tính mạng của hành khách và người đi tàu; trộm cắp tài sản của hành khách, nhân viên đường sắt, doanh nghiệp, hàng hóa, hành lý vận chuyển trên tàu; các hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về phòng chống cháy nổ trên tàu; các hành vi vi phạm pháp luật khác ở trên tàu.

Lực lượng bảo vệ trên tàu còn có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan, lực lượng chức năng trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ng­ười thuê vận tải và hành khách đi tàu. Hướng dẫn ng­ười thuê vận tải, hành khách đi tàu tham gia bảo vệ an ninh, trật tự trên tàu; trong việc nắm vững tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên tuyến đường sắt có các đoàn tàu chạy qua; trong việc rà phá, xử lý bom, mìn, vũ khí sinh học, hóa học, chất phóng xạ, xử lý hành lý, hàng hóa, bưu phẩm và các đồ vật khác chứa vật phẩm nguy hiểm khi vận chuyển trên tàu; trong việc kiểm soát ng­ười và hành khách lên xuống tàu; trong việc giải quyết xử lý các tình huống cháy nổ, khủng bố, buôn lậu gian lận thương mại xảy ra trên tàu; trong việc tổ chức cấp cứu người bị thương trên tàu; hỗ trợ Trưởng tàu trong việc thực hiện quyền hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính ở trên tàu; trong việc giải quyết, khắc phục sự cố thiên tai, tai nạn giao thông đường sắt; trong việc ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm khác xảy ra trên tàu.

Nghị định nêu rõ, lực lượng bảo vệ trên tàu có quyền kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở người thuê vận tải, hành khách đi tàu chấp hành quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường sắt và nội quy đi tàu của doanh nghiệp; kiểm soát người lên xuống tàu, kiểm tra hàng hóa, hành lý vận chuyển trên tàu. Trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy đi tàu thì thông báo ngay cho Trưởng tàu để xem xét lập biên bản xử lý theo quy định của pháp luật.

Lực lượng bảo vệ trên tàu có quyền bắt người phạm tội quả tang và thông báo ngay cho Trưởng tàu để lập biên bản vi phạm, bàn giao cho cơ quan Công an, hoặc Viện kiểm sát hoặc UBND khi tàu dừng tại ga gần nhất để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp có lực lượng công an đang làm nhiệm vụ trên tàu thì bàn giao cho lực lượng công an xử lý; tham gia xác minh những vụ việc xảy ra ở trên tàu theo yêu cầu của doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; không được lợi dụng danh nghĩa lực lượng bảo vệ trên tàu để thực hiện hành vi trái pháp luật và xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Chế độ, chính sách

Nghị định quy định, lực lượng bảo vệ trên tàu được hưởng các quyền lợi và chế độ, chính sách sau đây: 

- Được huấn luyện, bồi d­ưỡng nghiệp vụ bảo vệ và chuyên môn kỹ thuật thuộc lĩnh vực công tác đang đảm nhận.

- Được trang bị công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật và các loại trang thiết bị, trang phục, sao hiệu, phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu theo quy định tại Nghị định này để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

- Trong khi thi hành nhiệm vụ, nếu bị thương, bị hy sinh thì được xem xét và có thể được công nhận hưởng chế độ như thương binh, liệt sỹ theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng và các hình thức khen thưởng khác theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 77/2018/NĐ-CP quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Nghị định quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, bao gồm: Đầu tư xây dựng mới công trình tích trữ nước, hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, trạm bơm điện, cống và kiên cố hóa kênh mương đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới.

Yêu cầu chung xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 78/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Trong đó bổ sung quy định về yêu cầu chung trong xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Cụ thể,  về xây dựng tiêu chuẩn, phải có sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý, hội, hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, người tiêu dùng, chuyên gia liên quan; tuân thủ nguyên tắc làm việc đồng thuận trên cơ sở thảo luận, góp ý kiến công khai, dân chủ.

Về xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), quy chuẩn kỹ thuật địa phương (QCĐP) phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ký kết, tham gia: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt kế hoạch xây dựng QCVN, QCĐP thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại các Điều 29, 60, 61 Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, sau khi có ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống; Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm góp ý đối với kế hoạch xây dựng QCVN, QCĐP trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của cơ quan xây dựng kế hoạch.

Bên cạnh đó, ưu tiên xây dựng quy chuẩn kỹ thuật điều chỉnh theo nhóm các đối tượng tương đồng về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý.

Quy định biện pháp quản lý và mức giới hạn về các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường trực tiếp phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khỏe, môi trường; bảo vệ động vật, thực vật; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng; tôn trọng quyền tự do sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân.

Nội dung quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được viện dẫn đến quy chuẩn kỹ thuật quốc gia khác, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài.

Trường hợp viện dẫn đến tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài đối với các yêu cầu kỹ thuật, cơ quan ban hành phải bảo đảm sẵn có bản tiếng Việt của tài liệu viện dẫn để cá nhân, tổ chức tham khảo khi được yêu cầu.

Khi xây dựng quy chuẩn kỹ thuật phải rà soát các quy định về thừa nhận tương đương, bảo đảm tuân thủ các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ký kết, tham gia.

Trường hợp quy chuẩn kỹ thuật có khả năng tạo rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, cơ quan ban hành phải gửi dự thảo quy chuẩn kỹ thuật đến Bộ Khoa học và Công nghệ để gửi lấy ý kiến quốc tế theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ký kết, tham gia.

Nghị định có hiệu lực từ 1/7/2018.

Danh sách Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định ban hành danh sách Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia thành lập theo Quyết định số 1079/QĐ-TTg ngày 17/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ làm Chủ tịch Hội đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng gồm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng (thường trực); Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng; Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ Vũ Viết Ngoạn.

Ủy viên Hội đồng gồm: Lê Đức Thúy - Chuyên gia tư vấn; Trương Đình Tuyển - Chuyên gia tư vấn; Đinh Văn Ân - Trợ lý Tổng Bí thư; Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội; Bùi Đức Thụ - Phó Trưởng Ban công tác đại biểu Quốc hội; Ngô Văn Tuấn - Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Nguyễn Đồng Tiến - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nguyễn Thị Hồng - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Lê Quang Mạnh - Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Trần Văn Hiếu - Thứ trưởng Bộ Tài chính; Trần Quốc Khánh - Thứ trưởng Bộ Công Thương; Nguyễn Sỹ Hiệp - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Trương Văn Phước - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; Trần Văn Dũng - Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Nguyễn Bích Lâm - Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê; Đào Văn Hùng - Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Mai Thị Thu Vân - Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Văn phòng Chính phủ; Trần Du Lịch - Chuyên gia tư vấn; Nguyễn Công Nghiệp - Chuyên gia tư vấn; Trần Thọ Đạt - Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân; Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; Nguyễn Quang Thuấn - Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam; Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương; Nguyễn Hồng Sơn - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Ngọc Thơ - Trưởng khoa Tài chính - Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Cấn Văn Lực - Giám đốc Trung tâm đào tạo Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Vũ Bằng - Chuyên gia tư vấn; Võ Trí Thành - Chuyên gia tư vấn; Lê Xuân Nghĩa - Chuyên gia tư vấn; Nguyễn Thị Mùi - Chuyên gia tư vấn; Trần Hoàng Ngân - Chuyên gia tư vấn.

Phân công chuẩn bị tài liệu bổ sung trình Quốc hội

Thủ tướng Chính phủ vừa phân công các Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang bộ chuẩn bị bổ sung tài liệu trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5.

Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị tài liệu bổ sung trình Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết về xử lý một số vấn đề phát sinh trong điều hành ngân sách nhà nước năm 2017 và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 (2 nội dung: phân chia khoản thu cấp quyền khai thác tài nguyên nước năm 2017; việc xử lý nghĩa vụ của ngân sách nhà nước đối với Quỹ Bảo hiểm xã hội về khoản đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động có thời hạn làm việc trong khu vực nhà nước trước ngày 1/1/1995).

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về công tác quản lý nhà nước về đất đai, nhất là ở một số địa phương dự kiến thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Về Báo cáo việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ hợp trước, cho đến nay, Tổng Thư ký Quốc hội mới nhận được báo cáo của các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư, Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Công Thương; Xây dựng. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ chưa gửi báo cáo, khẩn trương chuẩn bị Báo cáo việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp trước, gửi đến đại biểu Quốc hội.

Triển khai kết luận của UBTVQH tại phiên họp thứ 24

Triển khai kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 24, Thủ tướng Chính phủ đã phân công các thành viên Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ.

Về Dự án Luật Công an nhân dân (sửa đổi), Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công an nghiên cứu, bổ sung, làm rõ những vướng mắc, bất cập trong việc thi hành Luật Công an nhân dân; bổ sung báo cáo tổng kết việc thi hành Pháp lệnh Công an xã, báo cáo rõ lộ trình xây dựng Công an xã chính quy, mô hình tổ chức, mối quan hệ với cấp ủy, chính quyền địa phương và cơ quan quân sự địa phương, những tác động đối với đội ngũ công chức cấp xã, kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của Công an xã tại Tờ trình và các tài liệu liên quan.

Nghiên cứu, rà soát, chỉnh lý một số nội dung về phân loại lực lượng Công an nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của Công an nhân dân; lộ trình xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy bảo đảm đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương; cấp bậc hàm cao nhất của sĩ quan cấp tướng trong Công an nhân dân; thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giáng chức chức vụ Cục trưởng Cục quan trọng, đặc biệt; thẩm quyền quyết định thành lập đồn, trạm Công an và các đơn vị độc lập; tuổi nghỉ hưu của sĩ quan Công an nhân dân; bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động của Công an nhân dân; công nghiệp an ninh…

Bộ trưởng Bộ Công an tiếp thu, chỉnh lý nội dung dự thảo Luật, bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với Hiến pháp và thống nhất trong hệ thống pháp luật. Đối với những nội dung có sự điều chỉnh, thay đổi so với ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị trong quá trình xây dựng Luật Công an nhân dân năm 2014, báo cáo Chính phủ để xin ý kiến Bộ Chính trị.

Bộ trưởng Bộ Công an khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Công an nhân dân (sửa đổi), trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5.

Về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan đến Luật Quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu tiếp thu đầy đủ ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế; tiếp tục rà soát các quy định tại các luật liên quan trên nguyên tắc chỉ bổ sung, sửa đổi các nội dung liên quan đến quy hoạch; những vấn đề về cơ chế, chính sách cần sửa đổi sẽ được nghiên cứu khi sửa đổi toàn diện các luật theo đúng quy trình xây dựng luật, pháp lệnh. Ngoài 25 luật trong Phụ lục 3 của Luật Quy hoạch, đề nghị Bộ tiếp tục rà soát các luật khác cần sửa đổi trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 để bảo đảm Luật Quy hoạch được triển khai đồng bộ, không có vướng mắc khi thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2019.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan hoàn chỉnh dự án Luật, trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 5 theo quy trình rút gọn tại một kỳ họp.

Đối với dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng, Bộ Xây dựng làm rõ nội hàm “quy hoạch vùng tỉnh” và các nội dung có liên quan trên nguyên tắc lấy Luật Quy hoạch làm cơ sở, tránh sự trùng lắp, gây khó khăn trong quá trình thực hiện.

Về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và tình hình triển khai thực hiện những tháng đầu năm 2018, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân tích, làm rõ thêm về: (1) Tăng trưởng kinh tế năm 2017 chưa thực sự bền vững, mô hình tăng trưởng chưa rõ nét, động lực tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài, khai thác tài nguyên và khu vực FDI; (2) Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương có phần bị hạn chế; (3) Số nợ xấu vẫn còn lớn, thị trường chứng khoán có khởi sắc song cần tránh sự phát triển thiếu bền vững, thị trường bất động sản đang có biểu hiện nóng lên và có tác động tiêu cực đến nền kinh tế; (4) Môi trường kinh doanh còn nhiều rào cản chưa được tháo gỡ, công tác quản lý tài sản công, kỷ luật tài chính còn lỏng lẻo; (5) Vấn đề giáo dục, y tế, lao động, việc làm, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, công tác tư pháp, quốc phòng, an ninh, tiếp công dân cần có sự phân tích sâu sắc hơn và dành thêm thời lượng đánh giá tương xứng với phần kinh tế.

Về triển khai kế hoạch năm 2018, đề nghị phân tích rõ thêm một số vấn đề sau đây: (1) Rủi ro do chính sách bảo hộ thương mại, chính sách biên mậu, giá dầu thô; (2) Tình hình sạt lở, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường; (3) Xây dựng cơ bản và giải ngân một số công trình, dự án quan trọng quốc gia đạt thấp, chậm trình Quốc hội khoản 15.000 tỷ đầu tư vào các công trình cấp bách như đường sắt và 10 công trình về giao thông, 4.000 tỷ đồng cho Biển Đông, hải đảo; (4) Môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh và cải cách hành chính cần tạo điều kiện hơn nữa cho doanh nghiệp phát triển, giải pháp để tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước so với doanh nghiệp FDI; (5) Các giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế và quản lý đô thị; (6) Tạo sự phát triển lành mạnh của các thị trường, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản; quản lý tiền ảo; (7) Giải pháp đào tạo nguồn lực, nâng cao năng suất lao động; (8) Các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số; (9) Giải quyết các vấn đề “nóng” của xã hội hiện nay như vệ sinh an toàn thực phẩm, văn hóa, đạo đức xã hội, phòng cháy, chữa cháy, tai nạn giao thông, tội phạm công nghệ cao, các vụ việc có dấu hiệu lợi dụng vấn đề tôn giáo, sự xuất hiện đạo lạ gây bức xúc trong dư luận.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương tiếp thu ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hoàn chỉnh các báo cáo, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5.

Về đánh giá bổ sung tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2017, triển khai dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Tài chính có tờ trình và thực hiện quy trình, thủ tục theo quy định để trình Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết về: (1) Tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách đối với nguồn thu tiền cấp quyền sử dụng tài nguyên nước; (2) Việc phát hành trái phiếu nhận nợ 22.090 tỷ đồng với Bảo hiểm xã hội Việt Nam từ 01/01/2016.

Đồng thời tiếp tục triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách đã ban hành. Bổ sung đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ việc cân đối, bố trí nguồn lực thực hiện chính sách cho vùng đồng bào dân tộc, miền núi, vùng cao cùng với vấn đề giải quyết an sinh xã hội; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; báo cáo rõ việc đã xử lý 1.500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương và sớm trình UBTVQH xem xét bố trí bổ sung thêm từ nguồn dự phòng đầu tư công trung hạn để xử lý sạt lở của đồng bằng sông Cửu Long; tiến hành sơ kết, đánh giá 3 năm thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm và có phương án xử lý đối với số vốn ODA dự kiến thực hiện vượt mức 300.000 tỷ đồng đã được Quốc hội cho phép để trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm 2018.

Bộ trưởng Bộ Tài chính khẩn trương tiếp thu ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hoàn chỉnh các báo cáo, trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5.

Về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính phối hợp với Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Kiểm toán Nhà nước, Bộ Tài chính thống nhất số liệu, hoàn chỉnh các báo cáo để trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 theo quy định, trong đó lưu ý về khoản 233 tỷ đồng đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép bổ sung dự toán theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, báo cáo để Quốc hội biết và giám sát. Chưa chấp thuận việc đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 số tiền 22.010 tỷ đồng và quyết toán năm 2016 số tiền 3.270,44 tỷ đồng của Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC). Rà soát tổng thể, đề xuất phương án xử lý để xin ý kiến Bộ Chính trị, trình Quốc hội xem xét, quyết định. Xác định số hoàn thuế giá trị gia tăng theo thực tế phát sinh, bảo đảm quyết toán ngân sách nhà nước phản ánh đúng số thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu.

Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân sai phạm trong khai thác cát lòng hồ Dầu Tiếng

Ngày 19/4/2018, Báo Thanh niên và một số trang báo điện tử khác có đăng bài "Loạn hoạt động khai thác cát tại hồ Dầu Tiếng".

Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương chỉ đạo kiểm ra, rà soát nội dung phản ánh của báo chí, chấn chỉnh việc cấp phép khai thác cát tại hồ Dầu Tiếng để có biện pháp giải quyết theo đúng quy định của pháp luật; đồng thời chỉ đạo xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có sai phạm trong việc khai thác cát tại lòng hồ Dầu Tiếng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/8/2018.

Tổ chức Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam bảo đảm hiệu quả, thiết thực

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đồng ý phương án đề xuất của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc tổ chức Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam.

Phó Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt Đề án và quy định cụ thể việc tổ chức Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam; chỉ đạo các đơn vị chức năng tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả, thiết thực./.