(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Phê duyệt tổng biên chế công chức năm 2019

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 1016/QĐ-TTg phê duyệt biên chế công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước và biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước năm 2019.

Theo đó, tổng biên chế công chức năm 2019 của các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (không bao gồm biên chế của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; biên chế công chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập và cán bộ, công chức cấp xã), biên chế công chức dự phòng và biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước là 259.598 biên chế.

Cụ thể, biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước là 258.163 biên chế, trong đó: Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập 105.189 biên chế; các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện 151.906 biên chế; các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài 1.068 biên chế.

Biên chế công chức dự phòng là 749 biên chế. Tổng biên chế của các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước là 686 biên chế.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm giao biên chế công chức đối với từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong số biên chế công chức nêu trên; giao biên chế đối với từng Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước trong tổng biên chế quy định nêu trên.

Các Bộ, ngành và địa phương thực hiện điều chuyển, sắp xếp trong tổng biên chế được giao khi thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới và thực hiện tinh giản biên chế theo quy định.

Nâng cao chỉ số Chính phủ điện tử

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa có ý kiến chỉ đạo về việc nâng cao chỉ số Chính phủ điện tử của Việt Nam theo phương pháp đánh giá của Liên hợp quốc.

Xét báo cáo của Văn phòng Chính phủ về một số nội dung trong Báo cáo phát triển Chính phủ điện tử năm 2018 của Liên hợp quốc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai nghiêm túc và hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 theo Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 9/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 thực hiện tại các Bộ, ngành, địa phương năm 2017 và Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các Bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018 - 2019; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong đó ưu tiên các dịch vụ công thiết yếu; triển khai hiệu quả Nghị định 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm mỗi Bộ, ngành, địa phương chỉ có một Cổng dịch vụ công tập trung, thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp khai thác và sử dụng.

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện rà soát, đánh giá chỉ số thành phần hạ tầng viễn thông của Việt Nam theo phương pháp đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc và đề xuất các giải pháp để cải thiện chỉ số này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 1/9/2018.

Bộ Giáo dục và Đào tạo kịp thời cung cấp đầy đủ thông tin mới nhất về chỉ số thành phần nguồn nhân lực của Việt Nam cho các tổ chức quốc tế liên quan theo phương pháp đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc; tiếp tục triển khai các giải pháp để nâng cao chỉ số này.

Giám sát an toàn hệ thống CNTT phục vụ Chính phủ điện tử

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án Giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.

Theo đó, định hướng đến năm 2025, mở rộng phạm vi, nâng cao năng lực giám sát an toàn mạng, an toàn hệ thống thông tin (gọi chung là giám sát an toàn thông tin mạng) cho Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia tại Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) và các bộ, cơ quan ngang bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng Internet (nhà mạng ISP) để tăng cường khả năng phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời, chính xác về các sự kiện, sự cố, dấu hiệu, hành vi, mã độc xâm phạm, nguy cơ, điểm yếu, lỗ hổng có khả năng gây mất an toàn thông tin mạng đối với các hệ thống thông tin, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử (hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử).

Thiết lập được mạng lưới hệ thống giám sát an toàn thông tin mạng trên toàn quốc, đảm bảo liên kết, liên thông, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa giám sát tập trung của Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia, giám sát của các nhà mạng ISP và giám sát cơ sở của chủ quản các hệ thống thông tin.

Nâng cao năng lực Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia

Một trong các nhiệm vụ của Đề án là nâng cao năng lực Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia phục vụ Chính phủ điện tử.

Cụ thể, sẽ đầu tư mở rộng, nâng cấp và bổ sung nguồn lực vận hành Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia do VNCERT quản lý, tăng cường hệ thống giám sát trực tiếp và hệ thống giám sát gián tiếp nhằm mở rộng phạm vi giám sát, nâng cao năng lực phát hiện, cảnh báo, hỗ trợ xử lý các vụ tấn công, sự cố, mã độc, điểm yếu, lỗ hổng, rủi ro an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử. Triển khai giám sát gián tiếp cho các hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử tại các bộ, ngành, địa phương. Khảo sát, lựa chọn một số hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử quan trọng từ cấp độ 3 trở lên và hệ thống thông tin quan trọng quốc gia có điều kiện phù hợp để triển khai giám sát trực tiếp, tiến tới mở rộng phạm vi giám sát trên toàn quốc.

Phối hợp, hỗ trợ thiết lập một số thiết bị quan trắc, giám sát cơ sở tại các bộ, ngành, địa phương và các nhà mạng ISP để kết nối, chia sẻ thông tin, nhật ký, dữ liệu về Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia phục vụ giám sát an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử; tổ chức thu thập, phân tích các thông tin, dữ liệu từ nhà mạng ISP phục vụ công tác phát hiện, cảnh báo sớm nguy cơ, sự cố an toàn thông tin mạng. Đầu tư, thiết lập hệ thống thiết bị và triển khai kiểm tra, đánh giá, giám sát mức độ an toàn thông tin cho hệ thống thông tin phục vụ chính phủ điện tử để kịp thời cảnh báo các nguy cơ, lỗ hổng, điểm yếu của hệ thống.

Đầu tư, nâng cấp, bổ sung trang thiết bị phần cứng, phần mềm và duy trì, vận hành, bảo dưỡng định kỳ cho các hệ thống của Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia. Thuê và duy trì kênh kết nối Internet và truyền dữ liệu đủ lớn đảm bảo kết nối thông suốt từ Trung tâm giám sát an toàn mạng quốc gia tới các bộ, ngành, địa phương và các nhà mạng ISP. Cập nhật, mua bổ sung các mẫu mã độc, thông tin về sự cố, lỗ hổng, kỹ thuật tấn công, các công nghệ liên quan lĩnh vực an toàn thông tin mạng từ các nhà cung cấp nhằm nâng cao năng lực phát hiện sự cố, tấn công mạng cho Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia.

Tổ chức thu thập, lưu trữ, phân tích, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống chia sẻ các báo cáo, cảnh báo nguy cơ, sự cố, tình hình an toàn thông tin mạng của Chính phủ điện tử; xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin, dữ liệu giám sát và báo cáo phân tích sự cố phục vụ hoạt động nghiên cứu, phân tích và xử lý các tình huống mất an toàn thông tin có thể xảy ra. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến để hướng dẫn và thu hút các tổ chức, doanh nghiệp, người dân tham gia đóng góp cho hoạt động giám sát an toàn thông tin mạng.

Tăng cường nhân sự và thuê bổ sung chuyên gia an toàn thông tin để đảm bảo tính liên tục của hoạt động giám sát an toàn mạng 24 giờ/7ngày; theo dõi, phân tích, điều tra, xác minh và kịp thời cảnh báo dấu hiệu tấn công, sự cố an toàn thông tin mạng liên quan đến các hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử.

Giám sát an toàn mạng cơ sở của các bộ, ngành, địa phương

Nhiệm vụ khác của Đề án là thiết lập và nâng cao hiệu quả hoạt động các hệ thống quan trắc cơ sở và giám sát an toàn mạng cơ sở của các bộ, ngành, địa phương.

Theo đó, các bộ, ngành, địa phương đầu tư xây dựng hoặc thuê dịch vụ thiết lập và duy trì hệ thống quan trắc, giám sát cơ sở phục vụ giám sát an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử thuộc quyền quản lý; các tổ chức được giao quản lý, vận hành hệ thống thông tin quan trọng quốc gia, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước chủ động xây dựng hoặc thuê dịch vụ thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát hệ thống thông tin thuộc quyền quản lý; các cơ quan, đơn vị theo nhu cầu thực tế đầu tư mua mới các thiết bị phần cứng, phần mềm, phù hợp với mục tiêu giám sát; kết nối hệ thống thiết bị quan trắc, giám sát cơ sở của đơn vị với hệ thống giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông và Cơ quan điều phối quốc gia VNCERT.

Phối hợp, lấy ý kiến hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông và Cơ quan điều phối quốc gia khi đầu tư xây dựng mới hoặc thuê, mua, triển khai hệ thống quan trắc, giám sát cơ sở; áp dụng các quy trình kỹ thuật, kết nối, đồng bộ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông phục vụ giám sát an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử.

Đảm bảo các điều kiện kỹ thuật theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông và Cơ quan điều phối quốc gia VNCERT để Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia triển khai giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp cho các hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử từ cấp độ 3 trở lên và các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia thuộc quyền quản lý. Chủ quản hệ thống thông tin, đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thông tin, nhà mạng ISP, các tổ chức, doanh nghiệp quản lý các hệ thống thông tin quan trọng quốc gia phải cung cấp các thông tin kỹ thuật về hạ tầng, hệ thống thông tin, ứng dụng, dịch vụ, địa chỉ IP Internet, bố trí địa điểm, cổng kết nối, các điều kiện kỹ thuật, thiết lập, cấu hình, lắp đặt các thiết bị cần thiết theo yêu cầu của Cơ quan điều phối quốc gia VNCERT để Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia triển khai các hệ thống quan trắc và thực hiện giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp cho các hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử và hệ thống thông tin quan trọng khác do mình quản lý. Cung cấp các thông tin, nhật ký, dữ liệu giám sát và phối hợp chặt chẽ, thực hiện các yêu cầu của Cơ quan điều phối quốc gia trong công tác giám sát, ứng cứu xử lý sự cố, bảo đảm an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử và hệ thống thông tin quan trọng quốc gia.

Tổ chức đào tạo, huấn luyện nâng cao trình độ, kỹ năng cho đội ngũ nhân lực giám sát an toàn thông tin mạng và nâng cao nhận thức, kiến thức an toàn thông tin cho người dùng và cán bộ liên quan đến hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử. Các bộ, ngành, địa phương tăng cường thuê dịch vụ kỹ thuật và nhân sự trong triển khai giám sát, bảo đảm an toàn thông tin mạng cho hệ thống thông tin phục vụ Chính phủ điện tử.

Đầu tư, thiết lập hệ thống thiết bị và thường xuyên triển khai kiểm tra, đánh giá, giám sát mức độ an toàn thông tin cho hệ thống thông tin phục vụ chính phủ điện tử thuộc quyền quản lý. Định kỳ 6 tháng và hàng năm tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động của hệ thống quan trắc, giám sát an toàn thông tin mạng cơ sở và việc kết nối, phối hợp, trao đổi thông tin, dữ liệu giám sát, cảnh báo sự cố an toàn thông tin mạng với Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia, gửi Bộ Thông tin và Truyền thông (Trung tâm VNCERT) tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.  

Cơ cấu, chức năng mới của Tổng cục Đường bộ Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 35/2018/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Đường bộ Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải.

Theo đó, Tổng cục Đường bộ Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về giao thông vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện các dịch vụ công về giao thông vận tải đường bộ theo quy định của pháp luật.

Tổng cục Đường bộ có nhiệm vụ xây dựng các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, chiến lược, quy hoạch, đề án phát triển giao thông vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước... để Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải trình cấp có thẩm quyền hoặc ban hành theo thẩm quyền; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ, trình Bộ trưởng ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng đề nghị cơ quan có thẩm quyền thẩm định, công bố; tổ chức xây dựng và công bố tiêu chuẩn cơ sở chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ.

Đồng thời, chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, chương trình quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án về giao thông vận tải đường bộ sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành.

Tổng cục Đường bộ có nhiệm vụ về quản lý đầu tư xây dựng, khai thác và bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; quản lý đường bộ cao tốc; quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (trừ phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh); quản lý vận tải đường bộ; an toàn giao thông đường bộ...

Cơ cấu tổ chức

Tổng cục Đường bộ gồm có các đơn vị sau: Vụ Kế hoạch - Đầu tư; Vụ Tài chính; Vụ An toàn giao thông; Vụ Quản lý, bảo trì đường bộ; Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Hợp tác quốc tế; Vụ Vận tải; Vụ Quản lý phương tiện và người lái; Vụ Tổ chức - Hành chính; Vụ Pháp chế - Thanh tra; Vụ Quản lý xây dựng đường bộ; Cục Quản lý đường bộ I, Cục Quản lý đường bộ II, Cục Quản lý đường bộ III, Cục Quản lý đường bộ IV; Trường Trung cấp Giao thông vận tải miền Bắc; Trường Trung cấp Giao thông vận tải miền Nam; Trường Trung cấp Cơ giới đường bộ; Trường Trung cấp Giao thông vận tải Thăng Long; Trung tâm Truyền thông và Thông tin đường bộ; Trung tâm Kỹ thuật đường bộ.

Long An: Chuyển 2 đơn vị sự nghiệp công lập thành Cty cổ phần

Thủ tướng Chính phủ đồng ý chuyển 2 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND tỉnh Long An thành công ty cổ phần theo quy định tại Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015, trong đó Nhà nước giữ dưới 50% vốn điều lệ hoặc không nắm giữ cổ phần.

2 đơn vị chuyển đổi gồm: Trung tâm Kiểm định xe cơ giới, Trung tâm Kiểm định chất lượng công trình giao thông.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Long An chỉ đạo thực hiện việc rà soát, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các đơn vị sự nghiệp công lập nói trên trước khi thực hiện cổ phần hóa theo quy định tại Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến các Bộ để thực hiện việc chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần theo đúng quy định tại Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015, Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản pháp luật có liên quan.

Đồng thời, tiếp tục rà soát để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép thực hiện chuyển thành công ty cổ phần đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đủ điều kiện theo quy định.

Hà Tĩnh tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, huy động tối đa các nguồn lực

Hà Tĩnh phấn đấu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bao trùm, mọi người dân đều được hưởng lợi từ phát triển kinh tế, không ai bị bỏ lại phía sau; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội, chú trọng thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước.

Tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã biểu dương, đánh giá cao những kết quả đạt được của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Hà Tĩnh trong thời gian qua. Vượt qua những khó khăn do sự cố môi trường biển gây ra, Hà Tĩnh đưa kinh tế năm 2017 tăng trưởng trở lại (tăng 10,71%). Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2018 tăng trưởng 32,94% (gấp gần 4,5 lần cả nước); công nghiệp, xây dựng tăng 95,61% (gấp hơn 10 lần cả nước); khu vực nông lâm, thủy sản tăng trên 5,54% (cao hơn nhiều so với bình quân cả nước); thu ngân sách nhà nước đạt gần 70% dự toán (cả nước đạt 49,4%), tăng 57,5% cùng kỳ (cả nước tăng 14,3%); giải ngân đạt 61,43% dự toán. Quy mô kinh tế tăng nhanh, từng bước đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của cả nước.

Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội được quan tâm chỉ đạo, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân ổn định, thực hiện tốt chính sách người có công. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tăng 12 bậc trong 2 năm 2016-2017, xếp thứ 10 về phát triển Chính phủ điện tử năm 2017...

Tuy vậy, tình hình kinh tế-xã hội của Tỉnh tăng trưởng dựa chủ yếu vào sản xuất thép; thương mại, dịch vụ, du lịch chưa được quan tâm đúng mức; số doanh nghiệp trên địa bàn còn ít (bình quân 300 người dân/1 doanh nghiệp, cả nước là 170 người dân/1 doanh nghiệp); chỉ số quản trị và hành chính  công cấp tỉnh (PAPI) có cải thiện, nhưng chỉ số "trách nhiệm giải trình với người dân" tụt 18 bậc (từ thứ 33/63 xuống thứ 51/63)...

Thủ tướng yêu cầu trong thời gian tới, tỉnh Hà Tĩnh phải phát huy những kết quả đã đạt được, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVIII đã đề ra trong giai đoạn 2016-2020, bảo đảm phát triển bền vững, bao trùm, mọi người dân phải được hưởng lợi từ phát triển kinh tế, không ai bị bỏ lại phía sau; tập trung rà soát đánh giá toàn diện định hướng phát triển, gắn với điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020 và lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội, chú trọng thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước.

Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện trong công tác chỉ đạo, điều hành, cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính các cơ quan chính quyền các cấp, tạo sức mạnh tổng hợp phát triển kinh tế-xã hội; giải quyết kịp thời ý kiến, phản hồi của người dân, doanh nghiệp và công khai kết quả xử lý, giải quyết; phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo đảm công tác quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng dư luận trong nhân dân, không để xảy ra điểm nóng.

Tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đi vào chiều sâu, bền vững; xây dựng khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới gắn với việc sắp xếp lại các thôn, xóm; thực hiện đồng bộ các giải pháp sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 6, Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XII.

Tỉnh phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, tạo điều kiện để Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh hoạt động đúng quy định; đồng thời, giám sát chặt chẽ về môi trường; xử lý tro xỉ gang thép và nhiệt điện.

Triển khai các giải pháp ổn định thị trường thịt lợn

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai các giải pháp nhằm ổn định thị trường thịt lợn.

Cụ thể, Phó Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công Thương chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác kiểm tra, quản lý thị trường, giám sát hoạt động của thương lái, các nhà cung cấp lớn, các đơn vị phân phối lớn thịt lợn để giảm chi phí trong lưu thông và khâu phân phối bán lẻ, giúp giảm giá thành bán lẻ đối với mặt hàng thịt lợn, đảm bảo các chỉ số cân đối lớn về CPI theo chỉ đạo của Chính phủ.

Đồng thời, Bộ Công Thương chỉ đạo, phối hợp các cơ quan, lực lượng quản lý chuyên ngành tại biên giới tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát vấn đề nhập lậu, gian lận thương mại đối với mặt hàng thịt lợn nhằm bảo vệ người tiêu dùng và người chăn nuôi trong nước.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo các địa phương, người chăn nuôi trong việc tái đàn gắn với chọn lọc con giống chất lượng cao, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm; tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các bộ, ngành có liên quan chủ động nắm bắt tình hình, tham mưu Chính phủ các giải pháp đảm bảo phát triển chăn nuôi bền vững, ổn định thị trường thực phẩm trong nước, thu nhập của người chăn nuôi.

Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan truyền thông thông tin đầy đủ, kịp thời và sát thực tế về nguồn cung và giá cả các mặt hàng thực phẩm, nhất là đối với thịt lợn, đảm bảo không xảy ra việc tăng giá do yếu tố tâm lý.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai đồng bộ các giải pháp phục hồi phát triển chăn nuôi lợn với quy mô hợp lý; đẩy mạnh công tác phòng chống dịch; tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông các loại gia súc, gia cầm, nhất là đối với mặt hàng thịt lợn trên địa bàn; ngăn chặn tình trạng đầu cơ, găm hàng chờ tăng giá; khuyến cáo người dân chuyển đổi cơ cấu tiêu dùng thực phẩm phù hợp với nguồn cung thực phẩm trong nước.

Theo đánh giá của ngành Thống kê và Chăn nuôi, nguồn cung lợn thịt trong sản xuất có giảm so với cùng kỳ năm 2017 nhưng số lượng không lớn. Cụ thể, sản lượng thịt lợn giảm khoảng 1,2% trong quý 1, sang đến quý 2 đã phục hồi tăng khoảng 0,4% và dự kiến tăng 1,5-2% vào quý 3 và quý 4. Bởi, đầu tháng 4 năm nay thị trường có dấu hiệu khả quan nên người chăn nuôi thâm canh tăng năng suất, nuôi vỗ béo, nuôi sinh sản làm tăng nguồn cung thịt lợn cho thị trường các tháng cuối năm.

Về giá lợn hơi trong nước hiện đang thuộc nhóm cao trong khu vực và hoàn toàn do thị trường trong nước, người chăn nuôi chi phối. Ðặc biệt, giá lợn hơi hiện tăng cao hơn ở các khu vực nông thôn, chợ cóc, khu vực giết mổ nhỏ lẻ. Nguyên nhân là do thợ mổ ở khu vực này không có điều kiện tiếp cận được những cơ sở chăn nuôi trang trại, doanh nghiệp - nguồn cung chính mặt hàng lợn thịt hiện nay, thế nên càng làm cho giá lợn thịt cục bộ ở nhiều nơi tăng cao, gây lan toả tâm lý thị trường đang thiếu nguồn cung lợn thịt và kéo giá thịt lợn cả nước lên cao...

Ý kiến của Phó Thủ tướng về di dời Bến cảng xăng dầu B12

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về việc di dời Bến cảng xăng dầu B12, tỉnh Quảng Ninh.

Bến cảng xăng dầu B12 có vị trí quan trọng và đóng góp to lớn vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, kể cả trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc và trong thời bình, phát triển kinh tế đất nước; đồng thời, góp phần đảm bảo việc cung ứng xăng, dầu cho phát triển sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Đây là một bến cảng hiện đại; hệ thống kết cấu hạ tầng của Bến cảng bao gồm cả các kho chứa, hệ thống bơm và đường ống dẫn xăng, dầu đến các khu vực tiêu thụ. Cầu cảng có thể tiếp nhận tàu biển có trọng tải đến 40.000 tấn vào, rời cảng làm hàng.

Trong những năm qua, với sự phối hợp, hỗ trợ của Bộ Công an, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam đã tổ chức thực hiện việc quản lý, khai thác vận hành Bến cảng đảm bảo an toàn, phòng, chống cháy, nổ và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường.

Bến cảng nằm trong khu vực có tính nhạy cảm, nơi có Vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới và Cảng tổng hợp Cái Lân; hoạt động của Bến cảng tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn chung của khu vực nếu không được kiểm soát chặt chẽ, chính vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã có quy định về việc di dời Bến cảng này.

Tuy nhiên, việc thực hiện di dời Bến cảng của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam là khá tốn kém và khó khăn do cảng được xây dựng, kết nối với hệ thống kho chứa và đường ống dẫn xăng, dầu. Trong quá trình điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển, các cảng biển đã có sự điều chỉnh (Cảng Cái Lân được điều chỉnh từ cảng container thành cảng tổng hợp…) nhưng chưa có sự nghiên cứu tổng quan từ kinh nghiệm phát triển cảng biển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt kinh nghiệm về phát triển cảng xăng, dầu đảm bảo an toàn kho chứa và bến cảng trong quá trình hoạt động.

Để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế (mà Việt Nam là thành viên) về bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị của Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xăng, dầu của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, góp phần vào việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục tổ chức nghiên cứu, rà soát các vị trí được quy hoạch, bố trí là cảng xăng, dầu để lựa chọn vị trí phù hợp với các yêu cầu về hoạt động xăng, dầu; đảm bảo an toàn, phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế; đáp ứng việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Trên cơ sở đó, trong tháng 10 năm 2018 báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định làm cơ sở để lập dự án đầu tư và thực hiện việc đầu tư xây dựng cảng theo quy định.

Đồng thời, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam thực hiện quản lý hoạt động của Bến cảng xăng dầu B12 đảm bảo an toàn tuyệt đối; có các biện pháp phòng, chống cháy, nổ, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và bảo đảm hiệu quả kinh doanh theo đúng các quy định của pháp luật.

Tiếp tục rà soát, đánh giá những bất cập liên quan đến tích tụ đất đai

Các Bộ, ngành tiếp tục rà soát, đánh giá những bất cập, tồn tại về chính sách, pháp luật liên quan đến quá trình tích tụ, tập trung đất đai để thể chế hóa đầy đủ nội dung theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương qua quá trình sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Đại biểu Quốc hội Phạm Đình Cúc, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chất vấn Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng: Việc tập trung ruộng đất cùng với quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp để thúc đẩy sản xuất hàng hóa, quy mô lớn, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật đã và đang diễn ra. Tuy nhiên tích tụ và tập trung ruộng đất chưa được quy định cụ thể. Do vậy cách vận dụng ở các địa phương có rất nhiều khác nhau. Xin Phó Thủ tướng cho biết quan điểm của Chính phủ về vấn đề này và giải pháp hữu hiệu trong thời gian tới để giải quyết vấn đề nêu trên.

Về nội dung chất vấn nêu trên, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng trả lời như sau:

Về quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến tích tụ, tập trung đất đai, để đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, Luật đất đai năm 2013 được ban hành đã có nhiều nội dung đổi mới quan trọng trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp nói chung, trong thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất đai cho sản xuất nông nghiệp nói riêng.

Liên quan đến chính sách tích tụ, tập trung đất đai, pháp luật về đất đai đã có các quy định: Người sử dụng đất nông nghiệp có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn và thế chấp quyền sử dụng đất. Đây được coi là chìa khóa pháp lý quan trọng để thực hiện tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để sản xuất nông nghiệp ở quy mô lớn hơn.

Pháp luật đất đai cho phép thực hiện cơ chế chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong nội bộ nhóm đất nông nghiệp một cách linh hoạt nhằm phù hợp hơn với cơ chế thị trường; điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tập trung ruộng đất để sản xuất hàng hóa theo mô hình kinh tế trang trại. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích hình thức kinh tế của hộ gia đình, cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất, mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối gắn với dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, Luật đất đai năm 2013 quy định nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức cho hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm thống nhất cho các loại đất nông nghiệp để khuyến khích nông dân gắn bó và yên tâm đầu tư sản xuất.

Về hạn mức, Luật Đất đai 2013 đã mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (không vượt quá 10 lần hạn mức giao đất). Đối với doanh nghiệp, pháp luật về đất đai không quy định hạn mức sử dụng đất. Nhu cầu sử dụng đất của doanh nghiệp được nhà nước xem xét giao đất, cho thuê đất trên cơ sở dự án đầu tư.

Ngoài các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai, đối với các dự án sản xuất, kinh doanh khác, nhà đầu tư được thỏa thuận nhận chuyển nhượng, thuê, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để có đất thực hiện dự án.

Bên cạnh những mặt đạt được, thực tế quá trình tích tụ, tập trung đất đai còn diễn ra chậm; thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hoạt động còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, trong đó, thị trường cho thuê đất phát triển kém hơn rất nhiều so với thị trường chuyển nhượng đất nông nghiệp và còn một số vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.

Một số giải pháp

Hiện nay, Ban Chấp hành Trung ương đang sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Những bất cập, khó khăn trong tích tụ, tập trung đất đai để phục vụ cho phát triển nông nghiệp đã được phân tích, đánh giá trong dự thảo Báo cáo sơ kết Nghị quyết của Trung ương. Trên cơ sở kết luận chỉ đạo của Trung ương về sơ kết Nghị quyết số 19, Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ, ngành tiếp tục rà soát, đánh giá những bất cập, tồn tại về chính sách, pháp luật liên quan đến quá trình tích tụ, tập trung đất đai để thể chế hóa đầy đủ nội dung theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương qua quá trình sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Trong đó, nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp như: Hạn mức nhận chuyển quyền đất nông nghiệp của hộ, gia đình, cá nhân; điều kiện nhận chuyển nhượng đất trồng lúa của hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, tổ chức kinh tế để sản xuất nông nghiệp; chính sách về tài chính đất đai, giá đất; cơ chế chính sách để người sử dụng đất linh hoạt trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nâng cao hiệu quả theo các dự báo thị trường; chính sách thúc đẩy thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp phát triển minh bạch và hiệu quả để thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung đất đai theo cơ chế thị trường.

Nghiên cứu đề xuất về cơ chế, nguồn vốn, nâng cao năng lực của Tổ chức thực hiện vai trò trung gian trong quan hệ giữa nhà đầu tư và người có quyền sử dụng đất để tạo quỹ đất phục vụ cho phát triển nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức công bố công khai quỹ đất nông nghiệp, nhu cầu chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất. Trên cơ sở đó để hình thành quỹ đất nhằm chủ động kêu gọi đầu tư, cùng với doanh nghiệp tổ chức xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp.

Phổ biến đầy đủ các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là quy định về các quyền, nghĩa vụ cho thuê, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức lại các mô hình sản xuất nông nghiệp (kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp...) cho phù hợp với trình độ của nền kinh tế và tình hình thực tế của địa phương; trong đó cần chú ý vai trò chủ lực của doanh nghiệp để tạo ra những đột phá trong phát triển nông nghiệp. Quan tâm, tổ chức đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông nghiệp, nông thôn./.