(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Phân công chuẩn bị nội dung Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV

Để chuẩn bị Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV (dự kiến khai mạc vào ngày 22/10/2018, bế mạc ngày 20/11/2018), Thủ tướng Chính phủ phân côngcác thành viên Chính phủ chuẩn bị một số báo cáo, dự án luật.

Cụ thể, Thủ tướng phân công các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ theo ngành, lĩnh vực của bộ, cơ quan ngang bộ về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV; Báo cáo của Chính phủ theo ngành, lĩnh vực của bộ, cơ quan ngang bộ về kết quả thực hiện Nghị quyết số 113/2015/QH13 về tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn; việc thực hiện Nghị quyết số 63/2018/QH14 về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; Báo cáo của Chính phủ về việc đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020; Báo cáo của Chính phủ về việc đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2018 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2019; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung các Luật có quy định liên quan đến quy hoạch (theo quy trình thông qua tại một kỳ họp); Dự án Luật Đầu tư công (sửa đổi).

Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019; Báo cáo của Chính phủ về phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2019; Báo cáo của Chính phủ về kế hoạch tài chính ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia 2019-2021 (trong đó có đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020); Dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Bộ trưởng Bộ Công an chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2018; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án hình sự; Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 63/2013/QH13 về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về công tác thi hành án năm 2018; chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kế hoạch tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp và Nghị quyết số 67/2013/QH13 về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về phê duyệt quy hoạch sử dụng đất 2016-2020, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 2016-2018.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 32/2016/QH14 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo cơ chế chương trình mục tiêu quốc gia (gửi đại biểu Quốc hội tự nghiên cứu); Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết số 26/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bộ trưởng Bộ Công Thương chuẩn bị các Báo cáo: Báo cáo của Chính phủ việc thực hiện Nghị quyết số 62/2013/QH13 về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện dự án thủy điện Lai Châu; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện dự án thủy điện Sơn La; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện dự án thủy điện Sông Bung 4 và Thượng Kon Tum; Báo cáo của Chính phủ về dự án nhà máy lọc dầu Nghi Sơn; Báo cáo của Chính phủ về dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất...

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về tình hình triển khai thực hiện dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành theo Nghị quyết số 94/2015/QH13 của Quốc hội; Báo cáo của Chính phủ về tình hình trật tự an toàn giao thông năm 2018; Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 về điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 38/2004/QH11.

Thủ tướng Chính phủ phân công Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; Báo cáo kết quả 2 năm (2017-2018) thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020.

Bộ trưởng Bộ Y tế chuẩn bị Dự án Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia; Báo cáo của Chính phủ về việc quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về việc sửa đổi toàn diện Luật Giáo dục; giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 5; phối hợp chuẩn bị Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ đánh giá 3 năm thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Tổng Thanh tra Chính phủ chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2018; Báo cáo của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 2018.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2018; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2019; Báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về giám sát chuyên đề, chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV; Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết số 113/2015/QH13 về tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn; thực hiện Nghị quyết số 63/2018/QH14 về chất vấn, các vấn đề đã hứa tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV.

Phân công chuẩn bị Phiên họp thứ 28 của UBTVQH

Thủ tướng Chính phủ phân công các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chuẩn bị nội dung Phiên họp thứ 28 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 15 đến ngày 17/10/2018).

Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; báo cáo của Chính phủ về việc đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020; báo cáo của Chính phủ về việc đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 (bao gồm phương án điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn nước ngoài giai đoạn 2016 - 2020); báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2018 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2019; báo cáo của Chính phủ về đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020; báo cáo của Chính phủ về đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH13 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.

Bộ trưởng Bộ Tài chính chuẩn bị báo cáo của Chính phủ đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019; báo cáo của Chính phủ về phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2019; báo cáo của Chính phủ về kế hoạch tài chính ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia 2019-2021 (trong đó có đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm giai đoạn 2016-2020); tờ trình của Chính phủ về việc sử dụng nguồn kinh phí còn lại của ngân sách trung ương năm 2017 (nếu có).

Bộ trưởng Bộ Công an chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện Nghị quyết số 30/2016/QH14 về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam và việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về việc thực hiện cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ chuẩn bị Tờ trình của Chính phủ về việc thành lập thị trấn Tân Khai thuộc huyện Hớn Quản; thành lập phường Tiến Thành thuộc thị xã Đồng Xoài và thành phố Đồng Xoài thuộc tỉnh Bình Phước.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan chuẩn bị Báo cáo của Chính phủ về việc đánh giá kết quả 3 năm thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát

Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát.

Kế hoạch nhằm xác định các nhiệm vụ cụ thể, phân công trách nhiệm và tiến độ thực hiện để xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát nhằm phản ánh đầy đủ quy mô của nền kinh tế theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với bối cảnh thực tiễn của Việt Nam, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Nội dung của Đề án gồm: Xác định các căn cứ để xây dựng Đề án; sự cần thiết của Đề án; quan điểm xây dựng Đề án; mục tiêu, yêu cầu của Đề án; kinh nghiệm quốc tế và thực tế ở Việt Nam về khu vực kinh tế chưa được quan sát; xác định nội dung của Đề án; xác định các giải pháp để thực hiện Đề án; đề xuất trách nhiệm của Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xây dựng lộ trình và kế hoạch thực hiện Đề án; xác định kết quả đầu ra của Đề án.

Trong đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xác định căn cứ xây dựng Đề án; nghiên cứu sự cần thiết của Đề án; xác định quan điểm xây dựng Đề án; nghiên cứu phương pháp luận liên quan đến khái niệm, phạm vi hoạt động kinh tế chưa được quan sát; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tế ở Việt Nam về khu vực kinh tế chưa được quan sát; xây dựng phương án thu thập thông tin để đánh giá kết quả sản xuất của các hoạt động kinh tế chưa được quan sát của Việt Nam; đề xuất các giải pháp để thống kê được các hoạt động thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát...

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì đề xuất các định hướng, giải pháp, cơ chế quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực lao động, việc làm. Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) chủ trì đề xuất các chính sách liên quan đến thuế nhằm mở rộng cơ sở thuế, chống sói mòn thất thu thuế; Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) chủ trì đề xuất các giải pháp thống kê đối với hoạt động xuất nhập khẩu chưa được ghi chép trong thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bộ Công Thương chủ trì đề xuất các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát; giao Ban Chỉ đạo thành lập Tổ biên tập Đề án.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì chỉ đạo Ban Chỉ đạo và các bộ, ngành liên quan hoàn thiện Đề án và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Bộ Tài chính bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước để triển khai Kế hoạch xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan) chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thành nhiệm vụ được giao chủ trì theo đúng tiến độ và gửi kết quả về Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê).

Các bộ, ngành khác chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan) trong triển khai Kế hoạch xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát, bảo đảm tiến độ hoàn thành theo quy định.

Lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu NSND, NSƯT lần thứ 9

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú” lần thứ 9 (Hội đồng).

Theo quyết định, ông Nguyễn Ngọc Thiện - TS. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Ông Bùi Trường Giang - TS. Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; bà Trần Thị Hà - Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương.

Ủy viên Hội đồng gồm: Ông Lương Hồng Quang - TS. Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng, Văn phòng Chủ tịch nước; ông Nguyễn Khắc Khanh - Thiếu tướng.TS. Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Bộ Công an; ông Phùng Huy Cẩn - Vụ trưởng Vụ Thi đua, Khen thưởng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Đỗ Kim Cuông - Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; ông Đặng Xuân Hải - NSND. Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam; bà Chu Thúy Quỳnh - NSND. Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam; ông Đỗ Hồng Quân - PGS.TS.Nhạc sĩ. Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam; ông Lê Tiến Thọ - NSND. Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam; bà Nguyễn Thị Thanh (Thanh Hoa) - NSND. Chủ tịch Hội bảo vệ quyền của các nghệ sĩ biểu diễn Âm nhạc Việt Nam; ông Ngô Văn Thành - GS.TS.NSND. Nguyên Giám đốc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; bà Nguyễn Thị Thanh Hiền (Thu Hiền) - NSND. Nguyên Trưởng Đoàn Ca nhạc, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Lý Thái Dũng - NSND. Phó Trưởng Khoa phụ trách Khoa Điện ảnh, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Hà Thế Dũng - NSND. Chủ tịch Hội Múa Thành phố Hồ Chí Minh; ông Phạm Anh Phương - NSND. Nguyên Giám đốc Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Trịnh Lê Văn - NSND. Trưởng Ban Văn nghệ, Đài Truyền hình Việt Nam; bà Bùi Thanh Trầm - NSND. Chủ tịch Hội Sân khấu Hà Nội; ông Trần Ngọc Giàu - NSND. Chủ tịch Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh; bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - TS. NSND Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức xét, lựa chọn những cá nhân có đủ tiêu chuẩn, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú” lần thứ 9.

Hội đồng hoạt động theo các nguyên tắc: Các phiên họp của Hội đồng phải có ít nhất 75% tổng số thành viên của Hội đồng tham dự, trong đó có Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng được ủy quyền. Các cá nhân được đề nghị xét tặng danh hiệu phải được ít nhất 90% số phiếu đồng ý của tổng số các thành viên Hội đồng.

Căn cứ kết luận, kiến nghị của các Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước và tiêu chuẩn đối với từng danh hiệu, Hội đồng tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín đối với từng nghệ sĩ được đề nghị, lập Danh sách các nghệ sĩ được đề nghị tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú” theo từng lĩnh vực và thông báo công khai Danh sách này trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ khi có kết quả xét tặng danh hiệu của Hội đồng theo quy định của pháp luật.

Sau khi tổng hợp kết quả xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú” và tham khảo, tiếp thu ý kiến trên các phương tiện thông tin đại chúng (nếu có), Hội đồng gửi hồ sơ đến Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương thẩm định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, trình Chủ tịch nước.

Cá nhân có hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”, “Nghệ sĩ Ưu tú” không tham gia Hội đồng.

Thành viên của Hội đồng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; Quy chế làm việc của Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng quyết định; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan thường trực của Hội đồng. Hội đồng có Tổ Thư ký giúp việc do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.

Quy định mới về nhân lực văn hóa, nghệ thuật được đào tạo ở nước ngoài

Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định 1240/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 19/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài đến năm 2030".

Nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 19/7/2016 là về lĩnh vực đào tạo; đối tượng và trình độ đào tạo, bồi dưỡng.

Theo đó, lĩnh vực đào tạo của Đề án là: Âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, múa, xiếc và văn hóa; trong đó ưu tiên đào tạo các ngành, chuyên ngành trong nước chưa có khả năng đào tạo hoặc chất lượng đào tạo chưa cao.

Về đối tượng và trình độ đào tạo, bồi dưỡng, theo Quyết định 1240/QĐ-TTg, đào tạo trình độ  đại học cho các đối tượng sau:

- Học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật có kết quả rèn luyện đạt loại khá trở lên, kết quả học tập môn chuyên ngành đạt loại giỏi trở lên hoặc đạt giải thưởng quốc gia, khu vực, quốc tế.

- Lưu học sinh đã tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật ở nước ngoài được các cơ sở đào tạo nước ngoài tiếp nhận hoặc được các cơ sở đào tạo trong nước cử đi học trung cấp, cao đẳng đề nghị dự tuyển trình độ đại học.

- Học sinh, sinh viên thuộc chương trình đào tạo tài năng có kết quả rèn luyện đạt loại khá trở lên, kết quả học tập các môn chuyên ngành đạt loại giỏi trở lên tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật được lựa chọn để gửi đi đào tạo ở nước ngoài với cùng trình độ hoặc trình độ cao hơn.

Đào tạo trình độ thạc sĩ cho các đối tượng sau:

- Giảng viên, giáo viên, nghiên cứu viên của cơ sở đào tạo, nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trong nước được cơ sở đào tạo, nghiên cứu đề nghị dự tuyển trình độ thạc sĩ.

- Công chức, viên chức, văn nghệ sĩ, có bằng tốt nghiệp ngành, chuyên ngành phù hợp được cơ sở đào tạo nước ngoài tiếp nhận; sinh viên tốt nghiệp có kết quả rèn luyện đạt loại khá trở lên, điểm tốt nghiệp chuyên ngành đạt loại giỏi trở lên tại các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật trong nước, có nguyện vọng đi học tập ở nước ngoài để về làm giảng viên, nghiên cứu viên, chuyên gia, văn nghệ sĩ cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, đơn vị văn hóa nghệ thuật.

- Lưu học sinh đã tốt nghiệp đại học tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài được cơ sở đào tạo nước ngoài tiếp nhận hoặc cơ sở đào tạo trong nước cử đi học đại học đề nghị dự tuyển trình độ thạc sĩ.

Đào tạo trình độ tiến sĩ cho giảng viên, giáo viên, nghiên cứu viên hoặc các đối tượng là lưu học sinh tốt nghiệp đại học, thạc sĩ ở nước ngoài với kết quả học tập môn chuyên ngành đạt loại giỏi trở lên và được cơ sở đào tạo nước ngoài nhận đào tạo chuyển tiếp trình độ tiến sĩ./.