(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Nghị quyết số 132/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kế hoạch số 10-KH/TW ngày 6/6 năm 2018 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Mục tiêu của Chương trình nhằm tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW và Kế hoạch số 10-KH/TW, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động các cấp, các ngành và toàn thể xã hội trong việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; xác định các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 26-NQ/TW và những việc cần phải làm ngay theo Kế hoạch số 10-KH/TW.

Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình là đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; xây dựng Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường công tác quản lý cán bộ; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền...

Trong đó, Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, báo cáo Chính phủ nội dung sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật cán bộ, công chức, Luật viên chức và các luật, nghị quyết có liên quan đến tổ chức bộ máy và công tác cán bộ để trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến, thông qua trong năm 2018, 2019. Trong đó chú trọng tới các quy định về: thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ, đặc biệt là công tác quản lý cán bộ; kiểm soát quyền lực; kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, trong đó chú trọng xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu; chuẩn hoá, đồng bộ các quy định, quy chế, quy trình về tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá cán bộ, công chức; làm rõ nguyên tắc, cơ chế liên thông trong công tác cán bộ nhằm bảo đảm sự liên thông trong hệ thống chính trị, nhất là liên thông giữa hệ thống các cơ quan đảng và chính quyền, giữa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công với nguồn nhân lực ở khu vực tư; xác định vị trí việc làm gắn với chức danh, chức vụ để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tiến tới bỏ chế độ “công chức suốt đời”; hoàn thiện cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững; các nội dung về thi đua, khen thưởng bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng thời điểm, khắc phục tình trạng chia tỷ lệ, cào bằng.

Kiểm soát chặt chẽ quyền lực

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình rà soát đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý để xác định các đối tượng trong từng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đáp ứng được các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, phù hợp về độ tuổi, tỉ lệ nữ và dân tộc thiểu số, có tính đến kế thừa và chuyển tiếp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tập trung siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên, đồng thời chú trọng tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cạnh tranh, bình đẳng, tạo mọi điều kiện để phát huy trí tuệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau tạo sự liên thông trong công tác cán bộ; xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình; hoàn thiện cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có "vùng cấm"...

Thời hạn thanh toán quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Trong đó, bổ sung quy định thời hạn thanh toán quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Cụ thể, trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Trường hợp đặc biệt, thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, thuộc một trong các trường hợp sau:

1- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

2- Người sử dụng lao động hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

3- Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế theo Điều 44 của Bộ luật lao động hoặc sáp nhận, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo Điều 45 của Bộ luật lao động.

Nghị định cũng bổ sung quy định tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Cụ thể, tiền lương làm căn cứ bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Khoản 5 Điều 42 hoặc Khoản 2 Điều 43 của Bộ luật lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động tại thời điểm người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương là tổ chức sự nghiệp khoa học thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thực hiện chức năng nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý kinh tế và phát triển doanh nghiệp; đào tạo tiến sĩ kinh tế và thực hiện hoạt động tư vấn theo quy định của pháp luật.

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương có nhiệm vụ nghiên cứu và đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định: Các cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng; đề án về đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh, hoàn thiện thể chế kinh tế; hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và những vấn đề quản lý kinh tế liên ngành khác.

Bên cạnh đó, đánh giá triển khai thực hiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế; tổng kết thực tiễn quản lý kinh tế; đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách, mô hình quản lý kinh tế mới; nghiên cứu lý luận và phương pháp luận về khoa học quản lý kinh tế và phát triển khoa học quản lý kinh tế ở Việt Nam; nghiên cứu, tham gia ý kiến về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức khác; xây dựng hệ thống thông tin về quản lý kinh tế và cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, thực hiện cung ứng dịch vụ công. Cụ thể, triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học về quản lý kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và lĩnh vực khoa học có liên quan khác theo quy định của pháp luật; đào tạo tiến sĩ kinh tế theo quy định của pháp luật; thực hiện hoạt động tư vấn về các lĩnh vực khác liên quan đến chức năng, nhiệm vụ được giao; biên soạn các ấn phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu nghiên cứu về quản lý kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Cơ cấu tổ chức

Về cơ cấu tổ chức, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương có 7 đơn vị gồm: 1- Ban nghiên cứu tổng hợp; 2- Ban nghiên cứu kinh tế ngành và lĩnh vực; 3- Ban nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh; 4- Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp; 5- Ban nghiên cứu các vấn đề xã hội; 6- Trung tâm tư vấn, đào tạo và thông tin tư liệu; 7- Văn phòng.

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương có Viện trưởng và không quá 3 Phó Viện trưởng.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2018 và thay thế Quyết định số 117/2009/QĐ-TTg ngày 29/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Thành lập cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Indonesia

Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập cơ quan thường trú tại Indonesia, hoạt động chung cho cả khu vực ASEAN (trừ những nước đã có cơ quan thường trú).

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai cụ thể.

Điều hành ổn định giá những tháng cuối năm

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành giá các mặt hàng những tháng cuối năm 2018 và định hướng điều hành giá cho cả năm 2019.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, công tác chỉ đạo điều hành giá đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo điều hành giá quan tâm, quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, theo đúng các kịch bản điều hành giá ngay từ những tháng đầu năm nhằm quyết tâm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đề ra. Các Bộ, ngành, địa phương đã có sự phối hợp nhuần nhuyễn, chủ động và khoa học; bám sát thực tiễn diễn biến giá cả thị trường, nâng cao năng lực công tác dự báo, xây dựng kịch bản điều hành giá phù hợp trong từng thời kỳ, giai đoạn để đề xuất lên Lãnh đạo Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo; chủ động áp dụng các giải pháp về bình ổn, kiểm soát giá cả qua đó giúp cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp và nền kinh tế góp phần thực hiện kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Kết quả, diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 và 9 tháng đầu năm đã đạt được những kết quả tích cực. Mặc dù có nhiều yếu tố tạo áp lực lên mặt bằng giá nhưng CPI tháng 9 năm 2018 chỉ tăng 0,59% so với tháng 8 năm 2018, CPI bình quân 9 tháng đầu năm tăng 3,57% so với cùng kỳ năm 2017. Đây là mức tăng sát với kịch bản dự báo và cho thấy dù diễn biến các tháng cuối năm vẫn còn thách thức nhưng khả năng thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân dưới 4% trong năm 2018 theo chỉ tiêu Quốc hội giao là trong tầm kiểm soát của Chính phủ nếu không có các biến động quá bất thường từ diễn biến địa chính - chính trị và thị trường hàng hóa thế giới.

Trong 3 tháng cuối năm 2018, qua phân tích, đánh giá bối cảnh trong nước và thế giới cho thấy mặt bằng giá thị trường chịu tác động đan xen của các yếu tố làm tăng áp lực và các yếu tố tạo thuận lợi cho công tác điều hành giá.

Các yếu tố thuận lợi giúp kiềm chế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng như cung cầu hàng hóa, nhất là ngành sản xuất nông nghiệp được cân đối, nguồn cung dồi dào, ổn định; giá thuốc chữa bệnh, vật tư y tế tiếp tục có triển vọng giảm; giá cước viễn thông tiếp tục ổn định và có xu hướng giảm; lạm phát cơ bản ở mức thấp, áp lực tỷ giá đã có dấu hiệu hạ nhiệt, cung tiền, tín dụng được điều hành thận trọng; áp lực về điều hành các mặt hàng nhà nước còn định giá từ nay đến cuối năm không lớn.

Bên cạnh đó, những yếu tố tạo áp lực tăng giá chủ yếu đến từ yếu tố thị trường như xu hướng tăng giá hàng hóa thế giới, trong đó có biến động tăng của giá một số nhiên liệu như xăng dầu, LPG do diễn biến phức tạp của tình hình địa - chính trị thế giới; thiên tai, bão lũ còn nhiều diễn biến phức tạp khó lường.

Những yếu tố trên đặt ra cho công tác quản lý, điều hành giá cần tiếp tục cố gắng nỗ lực, đặc biệt không để xảy ra lạm phát kỳ vọng không chỉ của năm 2018 và cả trong năm 2019. Căn cứ các kịch bản điều hành giá đã được thống nhất, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp điều hành giá đã đề ra từ đầu năm.

Trong đó, các Bộ, ngành, địa phương chủ động theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường đối với các mặt hàng có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây như xăng dầu, LPG, thịt lợn, cần chủ động rà soát, cân đối cung cầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá để bình ổn thị trường đặc biệt là trong các thời điểm lễ, Tết; tiếp tục rà soát để đẩy nhanh thực hiện giảm giá các mặt hàng có khả năng giảm giá (thuốc chữa bệnh cho người, vật tư y tế, dịch vụ sử dụng đường bộ BOT...).

Về chính sách tiền tệ, Phó Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát; tiếp tục thực hiện các biện pháp ổn định tỷ giá và mặt bằng lãi suất; phấn đấu kiểm soát lạm phát cơ bản ở mức khoảng 1,5% - 1,6%; tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính để điều hòa lượng tiền gửi của Kho bạc nhà nước nhằm giảm áp lực về lượng tiền lưu thông và áp lực lên lạm phát.

Điều hành giá một số mặt hàng

Phó Thủ tướng yêu cầu phải tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc điều hành giá một số mặt hàng. Cụ thể, đối với mặt hàng nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường để có biện pháp cân đối cung cầu nhằm ổn định thị trường đối với các mặt hàng lương thực, thực phẩm; chủ động phối hợp với Bộ Công Thương để có các giải pháp bình ổn giá thịt lợn thành phẩm, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, theo dõi sát diễn biến dịch bệnh và chủ động có các biện pháp phòng bệnh, tránh lây lan tại các tỉnh giáp ranh; tiếp tục nghiên cứu tìm đầu ra xuất khẩu cho nhiều mặt hàng nông sản để đảm bảo tính bền vững của sản xuất; chủ động phối hợp với Bộ Công Thương chuẩn bị nguồn hàng đầy đủ để kịp thời ứng phó với các diễn biến bất thường trong mùa mưa bão cũng như chuẩn bị cho các dịp lễ, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán.

Về mặt hàng xăng dầu, trước diễn biến của giá xăng dầu thế giới có xu hướng tăng cao, trên cơ sở kết quả đạt được trong công tác điều hành giá xăng dầu trong thời gian qua, Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, điều hành giá xăng dầu trong nước theo đúng quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu, sử dụng hợp lý quỹ bình ổn giá với liều lượng thích hợp. Trường hợp có biến động lớn về giá xăng dầu cần phải tính đến việc tạm không trích quỹ trong một thời gian để góp phần bình ổn giá xăng dầu trong nước; tiếp tục nghiên cứu các giải pháp để thúc đẩy tăng tỷ trọng sử dụng nhiên liệu sinh học trong tổng lượng tiêu thụ xăng dầu nhằm giảm mặt bằng giá xăng dầu cũng như góp phần bảo vệ môi trường.

Đối với mặt hàng điện, Bộ Công Thương phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát các chi phí giá thành của ngành điện trong các năm 2017, 2018 và dự kiến 2019 để đề xuất kịch bản điều hành giá phù hợp cho năm 2019. Trường hợp cần thiết phải tăng giá điện cần cân nhắc điều chỉnh ở mức phù hợp, gắn với đó là việc đẩy mạnh công khai, minh bạch thông tin về giá. Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam tăng cường các giải pháp nhằm giảm chi phí giá thành, tổn thất điện năng, tăng sử dụng các nguồn phát điện có chi phí thấp như thủy điện.

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Y tế khẩn trương đánh giá, rà soát sửa đổi các quy định pháp lý để điều chỉnh mức lương cơ sở trong tính giá dịch vụ khám chữa bệnh thực hiện ngay trong năm 2018; chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đánh giá tác động, đề xuất kịch bản điều hành đối với việc kết cấu thêm chi phí quản lý trong giá dịch vụ khám chữa bệnh trong năm 2019.

Đồng thời, Bộ Y tế thống nhất với Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc chuẩn bị thủ tục pháp lý đối với việc tổ chức triển khai đấu thầu tập trung quốc gia năm 2019; khẩn trương triển khai thực hiện đấu thầu tập trung đối với vật tư y tế.

Đối với Dịch vụ giáo dục, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục phối hợp với các địa phương chủ động nắm bắt thông tin, đánh giá những tác động của việc tăng học phí trong năm học 2018 – 2019; đăng ký và dự kiến mức tăng học phí và việc thực hiện lộ trình giá thị trường trong năm 2019.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Xây dựng theo dõi sát diễn biến giá vật liệu xây dựng, đặc biệt chú trọng theo dõi sát các chính sách và tình hình thương mại quốc tế có khả năng ảnh hưởng đến đầu vào sản xuất.

Bộ Giao thông vận tải tăng cường quản lý giá cước vận tải hành khách, giám sát công tác kê khai và điều chỉnh giá của các doanh nghiệp vận tải, đảm bảo nhu cầu đi lại cho người dân trong các dịp lễ, Tết.

Đồng thời, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu xây dựng lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ bốc dỡ container phù hợp với mặt bằng giá các nước trong khu vực và điều kiện thực tế tại Việt Nam; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Bộ Tài chính trong việc đánh giá tác động của lộ trình điều chỉnh để không gây tác động đến chỉ số CPI và các mặt kinh tế xã hội khác.

Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục triển khai và quản lý giá cước dịch vụ viễn thông theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn Thông; phối hợp với Bộ Tài chính để quản lý giá cước dịch vụ viễn thông phù hợp với các quy định tại Luật Viễn thông, Luật Giá và các văn bản hướng dẫn.

Đề xuất kịch bản điều hành giá chi tiết cho năm 2019

Đối với các mặt hàng thuộc thẩm quyền định giá của địa phương, Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chú trọng rà soát các yếu tố chi phí, đánh giá kỹ tác động lên mặt bằng giá tại địa phương nói riêng và mặt bằng giá cả nước nói chung, tránh điều chỉnh tăng giá khi chưa có đủ các điều kiện phù hợp; đẩy mạnh kiểm soát việc thực hiện công tác niêm yết giá, kê khai giá và kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về giá tại địa bàn, nhất là các tháng trước, trong và sau Tết.

Về công tác dự báo, Phó Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan tiếp tục đánh giá, phân tích diễn biến tình hình kinh tế xã hội, mức độ tăng trưởng của nền kinh tế để tính toán đề xuất cụ thể mức chỉ tiêu lạm phát trong năm 2019 cho phù hợp. Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành tăng cường công tác dự báo, bám sát diễn biến giá cả thị trường để đề xuất kịch bản điều hành giá chi tiết cho năm 2019 nhằm bảo đảm kiểm soát lạm phát, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá quý IV năm 2018.

Nghiên cứu kỹ Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp nghe Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.

Nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông phải được đầu tư phát triển đồng bộ, tối ưu hóa chi phí vận tải. Với điều kiện địa hình tự nhiên của Việt Nam trải dài trên trục Bắc - Nam, tình hình mưa lũ thường xuyên đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và việc đi lại của người dân; đồng thời, tuyến đường sắt Bắc - Nam hiện tại đã lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu vận tải ngày càng tăng trên hành lang trọng yếu này. Do đó, việc nghiên cứu đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam là cần thiết, phù hợp với Nghị quyết của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và định hướng Chiến lược, Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường sắt đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Với tính chất kỹ thuật phức tạp và nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, quá trình nghiên cứu chuẩn bị đầu tư Dự án cần phải được nghiên cứu kỹ để có sự đồng thuận cao của các chuyên gia, nhà khoa học, của người dân và xã hội. Trên tinh thần đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã giao Bộ Giao thông vận tải tiếp tục tổ chức thêm các diễn đàn, hội thảo để các chuyên gia, nhà khoa học đóng góp thêm ý kiến về sự cần thiết đầu tư Dự án, lựa chọn kịch bản, công nghệ phát triển và phương án tổ chức khai thác...; đồng thời, tranh thủ ý kiến góp ý của người dân để tạo sự đồng thuận về việc đầu tư Dự án.

Phó Thủ tướng yêu cầu Tư vấn thu thập thêm kinh nghiệm của các nước đã và đang phát triển đường sắt tốc độ cao, đặc biệt là các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam để có sự so sánh, đánh giá.

Đồng thời, Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu mời các chuyên gia, nhà khoa học hoặc các tổ chức tư vấn để có ý kiến phản biện độc lập, làm cơ sở hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án.

Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính dự kiến nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2021 - 2030, đặc biệt là cho các dự án giao thông lớn (như đường bộ cao tốc, hệ thống cảng hàng không, nâng cấp tuyến đường sắt hiện có và các hạ tầng giao thông khác) để làm rõ khả năng cân đối nguồn lực đầu tư Dự án, làm cơ sở trình các cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư.

Trên cơ sở hồ sơ Dự án đã hoàn thiện, Bộ Giao thông vận tải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét để giao Hội đồng thẩm định Nhà nước tổ chức thẩm định quy định và xin ý kiến Trung ương, Bộ Chính trị, làm cơ sở báo cáo Quốc hội cho ý kiến về chủ trương đầu tư Dự án.

Các Bộ Khoa học và Công nghệ, Công Thương căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, chủ động phối hợp đánh giá xu thế phát triển công nghệ về đường sắt trên thế giới; nghiên cứu, đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện năng cũng như quy hoạch mạng lưới cung cấp điện dọc tuyến để đáp ứng nhu cầu khai thác, vận hành Dự án; có giải pháp đồng bộ về chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực,... để hỗ trợ quá trình phát triển đường sắt tốc độ cao.

Khẩn trương thẩm định nguồn vốn đầu tư Bến cảng Liên Chiểu

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến về Dự án đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Phó Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương thực hiện việc thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của Dự án đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng (bao gồm cả 2 hợp phần đầu tư của Nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp).

UBND thành phố Đà Nẵng nghiên cứu, hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Trên cơ sở kết quả thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn của dự án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án, Bộ Giao thông vận tải rà soát, hoàn thiện nội dung báo cáo thẩm định chủ trương đầu tư dự án, trình Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật.