(Chinhphu.vn) – Thông cáo báo chí của Văn phòng Chính phủ về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Quy định mới về xét tuyển viên chức

Nghị định 161/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 11 (nội dung xét tuyển viên chức ) và Điều 12 (cách tính điểm) của Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức  thành Điều 11 (nội dung và hình thức xét tuyển viên chức).

Cụ thể, xét tuyển viên chức được thực hiện theo 2 vòng. Vòng 1 kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn của người dự tuyển đăng ký tại Phiếu đăng ký dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm, nếu phù hợp thì người dự tuyển được tham dự vòng 2.

Chậm nhất là 5 ngày làm việc sau ngày kết thúc việc kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn của người dự tuyển tại vòng 1, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng phải thông báo triệu tập thí sinh tham dự vòng 2. Chậm nhất là 15 ngày sau ngày thông báo triệu tập thí sinh được tham dự vòng 2 thì phải tiến hành tổ chức xét vòng 2.

Vòng 2 phỏng vấn hoặc thực hành để kiểm tra về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự tuyển. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức phỏng vấn hoặc thực hành tại vòng 2 này phù hợp với tính chất hoạt động nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển.

Điểm phỏng vấn hoặc thực hành được tính theo thang điểm 100. Thời gian phỏng vấn 30 phút; thời gian thực hành do người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định. Không thực hiện việc phúc khảo đối với kết quả phỏng vấn hoặc thực hành.

Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung quy định về xác định người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức. Cụ thể, người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức phải có đủ các điều kiện sau: Có kết quả điểm phỏng vấn hoặc thực hành đạt từ 50 điểm trở lên; có số điểm vòng 2 cộng với điểm ưu tiên (nếu có) cao hơn lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu được tuyển dụng của từng vị trí việc làm.

Trường hợp có từ 2 người trở lên có kết quả điểm phỏng vấn hoặc thực hành cộng với điểm ưu tiên (nếu có) bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có kết quả điểm phỏng vấn hoặc thực hành vòng 2  cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn không xác định được thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển.

Trường hợp người dự xét tuyển viên chức thuộc nhiều diện ưu tiên thì chỉ được cộng điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả điểm thi tại vòng 2. Người không trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức không được bảo lưu kết quả xét tuyển cho các kỳ xét tuyển lần sau.

Trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức

Nghị định quy định rõ trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức. Cụ thể, căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức  và theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức được xem xét tiếp nhận vào viên chức đối với các trường hợp sau:

- Các trường hợp có ít nhất 5 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (không kể thời gian tập sự, thử việc, nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn), gồm: Người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và người làm công tác cơ yếu; cán bộ, công chức cấp xã; người đang làm việc tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

- Người có tài năng, năng khiếu đặc biệt phù hợp với vị trí việc làm trong các ngành, lĩnh vực: Văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, các ngành nghề truyền thống.

- Trường hợp đã là cán bộ, công chức, viên chức, sau đó được cấp có thẩm quyền đồng ý chuyển đến làm việc tại lực lượng vũ trang, cơ yếu, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.

Kỷ luật 2 cán bộ

Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Lê Mạnh Hà, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và ông Nguyễn Trọng Dũng, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.

Cụ thể, tại Quyết định 1673/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lê Mạnh Hà, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, do có vi phạm, khuyết điểm trong công tác, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật về Đảng tại Quyết định số 940-QĐ/UBKTTW ngày 20/11/2018.

Tại Quyết định 1674/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Nguyễn Trọng Dũng, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp do có vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng trong công tác, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật về Đảng tại Quyết định số 941-QĐ/UBKTTW ngày 20/11/2018.

* Trước đó, từ ngày 12 đến 14/11/2018, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 31, xem xét, thi hành kỷ luật một số cá nhân về trách nhiệm liên quan trong Dự án Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn cầu (AVG).

Sau khi xem xét khách quan, toàn diện các vi phạm, khuyết điểm của các cá nhân; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định: Thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với ông Lê Mạnh Hà, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Nguyễn Trọng Dũng, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, nguyên Đảng ủy viên, Bí thư Chi bộ, Vụ trưởng Vụ Đổi mới doanh nghiệp, Văn phòng Chính phủ.

Gỡ vướng Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TPHCM

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND TPHCM khẩn trương chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vướng mắc để triển khai thực hiện Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TPHCM.

Mới đây, Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Meinhardt (Việt Nam) có báo cáo về các vấn đề tồn đọng liên quan đến Dự án giải quyết ngập do triều khu vực TPHCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu - giai đoạn 1.

Xét báo cáo của Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Meinhardt, Thủ tướng Chính phủ đã giao Chủ tịch UBND TPHCM chỉ đạo kiểm tra, xác minh các vấn đề được nêu tại báo cáo của Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Meinhardt, xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra thất thoát, lãng phí trong thực hiện Dự án; khẩn trương chỉ đạo, giải quyết dứt điểm các vướng mắc để triển khai thực hiện Dự án theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả Dự án, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả xử lý trong tháng 12/2018.

Các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Công an; Xây dựng; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo chức năng quản lý nhà nước và nhiệm vụ được giao, phối hợp với UBND TPHCM trong kiểm tra, xử lý các vấn đề tồn tại (nếu có) và kịp thời tháo gỡ vướng mắc liên quan đến thực hiện dự án, bảo đảm đúng quy định của pháp luật.

Dự án "Giải quyết ngập do triều khu vực TPHCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu - giai đoạn 1" được khởi công ngày 26/06/2016 do UBND TPHCM là cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư.

Chiều dài toàn bộ hệ thống xây dựng các cống ngăn triều trên các kênh rạch để ngăn không cho triều xâm nhập vào trung tâm thành phố, để tăng cường tối đa, phát huy hệ thống thoát nước đô thị, và chiều dài kè ngăn triều là trên 60 km kè.

Mục tiêu của dự án nhằm kiểm soát ngập do triều cường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng diện tích 570 km² với khoảng 6,5 triệu dân thuộc khu vực bờ hữu sông Sài Gòn và trung tâm TPHCM, đồng thời chủ động điều tiết hạ thấp mực nước trong các kênh rạch nhằm cải thiện khả năng tiêu thoát nước (bơm nước thoát ra từ các hệ thống thoát nước đô thị thoát ra kênh rạch) của các dự án thoát nước đô thị và hỗ trợ trữ nước mưa khi triều cường xuống thấp, kết hợp chống sạt lở bờ sông và góp phần cải tạo cảnh quan và môi trường nước trong khu vực dân cư.

TP. Phủ Lý là đô thị loại II

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 1678/QĐ-TTg công nhận thành phố Phủ Lý là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Hà Nam.

Trong những năm gần đây, Phủ Lý đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 16,61%/năm; thu nhập bình quân/người của thành phố đạt 59,10 triệu đồng/người/năm; tổng thu ngân sách trên địa bàn thành phố bình quân năm 2017 đạt 1.041,285 tỷ đồng.

Bước đột phá trong cải cách hành chính của TP. Phủ Lý là việc thành lập Trung tâm hành chính công thành phố (đi vào hoạt động từ tháng 7/2017). Với việc thành lập Trung tâm hành chính công, thành phố đã tạo lập được một môi trường làm việc thống nhất, hiện đại để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các thủ tục hành chính cho tổ chức, công dân.

Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, thành phố cũng đẩy mạnh xây dựng tổ chức chính quyền các cấp bảo đảm đúng pháp luật, công khai, dân chủ…

Việc công nhận TP. Phủ Lý là đô thị loại II có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vị thế, tạo động lực thúc đẩy phát triển ngành kinh tế, công nghiệp, dịch vụ, nông lâm nghiệp, thủy sản đầy tiềm năng của TP. Phủ Lý, cũng như thúc đẩy việc đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng đô thị.

Sau khi TP. Phủ Lý được công nhận đô thị loại III (năm 2006), TP. Phủ Lý đã tích cực phát huy mọi nguồn lực, phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, mở rộng không gian, tăng cường quản lý và xây dựng văn hoá đô thị, tăng quy mô dân số…

Đạt những thành tựu to lớn trong tất cả các mặt, đến nay thành phố đã hội tụ đầy đủ các điều kiện để được công nhận là đô thị loại II, khẳng định được vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hóa, dịch vụ, công nghiệp, nông lâm nghiệp, thủy sản, đối ngoại…; có vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đối với tỉnh Hà Nam nói chung và TP. Phủ Lý nói riêng, góp phần tăng trưởng kinh tế cho khu vực, đẩy nhanh hơn tốc độ đô thị hóa của tỉnh.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số hỗ trợ khách du lịch

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2025.

Mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành việc số hóa toàn bộ các dữ liệu về hướng dẫn viên du lịch, doanh nghiệp lữ hành quốc tế, cơ sở lưu trú trong cả nước do cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương quản lý; hình thành hệ thống thông tin số về khu, điểm du lịch, cơ sở dịch vụ du lịch và khách du lịch; phát triển các ứng dụng trên thiết bị di động cung cấp cho khách du lịch tại các địa bàn du lịch trọng điểm trong đó có các thông tin về điểm đến, sản phẩm dịch vụ du lịch, thuyết minh du lịch dịch tự động ra các ngôn ngữ phổ biến; kết nối liên thông giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương và doanh nghiệp du lịch;...

Đến năm 2025 phát triển đồng bộ hệ sinh thái du lịch thông minh gắn với Hệ tri thức Việt số hóa và các mô hình đô thị thông minh; thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trợ lý du lịch ảo và các công nghệ tiên tiến khác phục vụ du khách, cộng đồng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm 4 quốc gia dẫn đầu về năng lực cạnh tranh du lịch của khu vực Đông Nam Á.

Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Đề án là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số hỗ trợ khách du lịch trước và sau chuyến đi. Cụ thể, nâng cấp Cổng thông tin du lịch Việt Nam, bảo đảm cung cấp thông tin đầy đủ, sinh động về các điểm đến, sản phẩm và dịch vụ du lịch; tích hợp các ứng dụng hỗ trợ du khách xây dựng chương trình, đặt và thanh toán dịch vụ du lịch trực tuyến theo nhu cầu cá nhân; tiếp nhận phản hồi và xử lý phản hồi của khách du lịch.

Bên cạnh đó, xây dựng nội dung, chủ đề, phát động các chiến dịch quảng bá du lịch qua mạng xã hội, hướng đến các thị trường mục tiêu cụ thể của du lịch Việt Nam; tổ chức chương trình khảo sát cho những người viết trên mạng xã hội về du lịch, phóng viên Việt Nam và quốc tế để phát triển nội dung số quảng bá du lịch Việt Nam.

Phát triển ứng dụng xây dựng nội dung, tự động cập nhật thông tin cho khách du lịch sau chuyến đi; hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ thông tin lớn trong nước và nước ngoài để thực hiện truyền thông, quảng cáo qua nhiều kênh thông tin như tin nhắn, các ứng dụng phổ biến, nhạc chờ, chữ ký cuộc gọi.

Phát triển điểm đến du lịch thông minh

Nhiệm vụ và giải pháp khác là nâng cao hiệu quả quản lý điểm đến du lịch, phát triển điểm đến du lịch thông minh. Trong đó, chuẩn hóa nội dung số giới thiệu về điểm đến, sản phẩm, dịch vụ du lịch tiêu biểu của địa phương; phát triển ứng dụng thuyết minh du lịch tự động qua thiết bị di động thông minh; ứng dụng công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường và các công nghệ tiên tiến khác nhằm tăng giá trị và sức hấp dẫn của điểm đến, sản phẩm, dịch vụ du lịch.

Phát triển ứng dụng hỗ trợ khách du lịch của du lịch Việt Nam có khả năng theo sát hành trình, chủ động cung cấp thông tin phù hợp đáp ứng nhu cầu của du khách trong suốt hành trình du lịch; phát triển các ứng dụng hỗ trợ thanh toán thuận lợi trên thiết bị di động thông minh cho khách du lịch như thẻ tích điểm thanh toán đa năng, ứng dụng thanh toán trực tuyến, ứng dụng thanh toán bằng mã QR; phát triển các ứng dụng báo cáo, thống kê tự động liên thông từ các doanh nghiệp, cơ sở dịch vụ du lịch đến các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, tích hợp kết nối với các ngành, lĩnh vực liên quan, trước mắt là xuất nhập cảnh, hàng không, ngoại giao, thương mại, ngân hàng.

Ngoài ra, nâng cao chất lượng dữ liệu thông tin và dịch vụ trên các chuyến bay, cửa khẩu, cảng hàng không, cảng biển quốc tế và trong nước; khuyến khích các địa phương, doanh nghiệp viễn thông xây dựng hệ thống mạng internet không dây công cộng phục vụ du khách và các ứng dụng công nghệ thông minh nhằm quảng bá điểm đến, sản phẩm, dịch vụ du lịch; xây dựng, phát triển các ứng dụng giám sát, cảnh báo an toàn, hỗ trợ khách du lịch trong những trường hợp cần sự trợ giúp, trường hợp khẩn cấp.

Lựa chọn nhà thầu tư vấn lập điều chỉnh Quy hoạch TP. Đà Nẵng

Thủ tướng Chính phủ đồng ý áp dụng quy định tại Điều 26 Luật Đấu thầu 2013 để lựa chọn nhà thầu tư vấn lập đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Thiết kế chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND TP. Đà Nẵng tiếp thu ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng để chỉ đạo thực hiện lựa chọn nhà thầu tư vấn trong trường hợp đặc biệt bảo đảm chất lượng, tiến độ và theo đúng quy định của pháp luật. Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ.

Trước đó, điều chỉnh quy hoạch chung TP. Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 4/12/2013.

Nhưng theo UBND TP. Đà Nẵng, quy hoạch chung thành phố cần thay đổi để hợp với bối cảnh hiện nay.

Về phát triển kinh tế-xã hội, định hướng phát triển cần có sự điều chỉnh theo hướng: “Dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”, cụ thể tập trung ưu tiên phát triển dịch vụ du lịch, thương mại, khẳng định vai trò mũi nhọn kinh tế; chú trọng công nghiệp công nghệ cao để mang lại giá trị gia tăng lớn; đẩy mạnh nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Đối với các khu công nghiệp tại Đà Nẵng đã cơ bản lấp đầy nhưng cần hình thành thêm các khu công nghiệp mới. Hạ tầng đô thị có nhiều phát sinh mới cần sự điều chỉnh...

Mở rộng Nhà máy xi măng Long Sơn

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về việc đầu tư mở rộng Nhà máy xi măng Long Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Cụ thể, Thủ tướng đồng ý bổ sung giai đoạn II Nhà máy xi măng Long Sơn, tỉnh Thanh Hóa với 2 dây chuyền (dây chuyền số 3 và số 4), mỗi dây chuyền có sông suất là 2,3 triệu tấn xi măng/năm kết hợp xử lý rác thải bảo vệ môi trường và tạo ra các sản phẩm xi măng chất lượng cao, xi măng chịu mặn bền sunfat phục vụ xây dựng các công trình ven biển và hải đảo vào Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030.

Thời gian đưa vào vận hành dây chuyền số 3 trong năm 2020 và dây chuyền số 4 trong năm 2021.

Bộ Xây dựng tích hợp giai đoạn II Nhà máy xi măng Long Sơn vào Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phó Thủ tướng giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Thanh Hóa giám sát Dự án giai đoạn II Nhà máy xi măng Long Sơn, tỉnh Thanh Hóa (dây chuyền số 3 và số 4) thực hiện theo đúng quy định về đầu tư, xây dựng, môi trường, sản phẩm và các quy định có liên quan.

Bảo đảm cung cấp đủ than cho sản xuất điện

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về các giải pháp cung cấp than cho sản xuất điện.

Để đáp ứng đủ than cho các hộ sản xuất, đặc biệt là các nhà máy nhiệt điện, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Công Thương khẩn trương phê duyệt biểu đồ cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện than. Xây dựng kế hoạch tổng thể về nhu cầu sử dụng than các loại, gồm than sản xuất trong nước, than nhập khẩu, bảo đảm đáp ứng nhiên liệu cho các cơ sở sản xuất, đặc biệt là đáp ứng đủ than cho các nhà máy nhiệt điện.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nghiên cứu các giải pháp sử dụng than trộn cho sản xuất điện, trên cơ sở tính toán phối trộn than trong nước và nhập khẩu bảo đảm chất lượng nhiên liệu, các yếu tố về môi trường để khắc phục việc thiếu than Antraxite của các nhà máy điện; không để thiếu than cho sản xuất điện, kể cả ngắn hạn trong tháng cuối năm 2018.

Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty Đông Bắc cùng EVN và các hộ tiêu thụ than khác khẩn trương thỏa thuận ký hợp đồng mua bán than năm 2019 và kế hoạch mua bán than dài hạn, trung hạn và thực hiện nghiêm theo hợp đồng để đáp ứng đủ than cho sản xuất.

Đối với than nhập khẩu, Bộ Công Thương chỉ đạo TKV, Tổng công ty Đông Bắc và EVN thực hiện theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 2172/VPCP-CN ngày 10/3/2017.

Về giá bán than sản xuất trong nước thực hiện theo Luật giá, Bộ Tài chính chủ động làm việc và hướng dẫn các đơn vị sản xuất than trong nước xác định giá than theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm sản xuất kinh doanh than có hiệu quả.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan tạo điều kiện thuận lợi theo quy định của pháp luật để các đơn vị sản xuất than triển khai các dự án bảo đảm tiến độ, hiệu quả./.