(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/9/2019.
Thi hành kỷ luật nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa quyết định thi hành kỷ luật đối với đồng chí Nguyễn Văn Hiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Cụ thể, Thủ tướng quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân đối với đồng chí Nguyễn Văn Hiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân do đã có những vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng trong thời gian giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân và Bộ Chính trị đã thi hành kỷ luật về Đảng.

Phạt đến 200 triệu đồng đối với vi phạm hành chính lĩnh vực hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 71/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo từng chức danh đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp.

Theo quy định, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực hóa chất là 50.000.000 đồng, trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp là 100.000.000 đồng. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Đối với vi phạm quy định về yêu cầu đối với nhà xưởng, kho chứa, thiết bị trong sản xuất, kinh doanh hóa chất, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không có bảng hiệu và đèn báo tại lối thoát hiểm của nhà xưởng, kho chứa hóa chất.

Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Không có thông tin thể hiện các đặc tính nguy hiểm của hóa chất theo quy định trong biển báo nguy hiểm treo tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không treo, đặt biển báo các đặc tính nguy hiểm của hóa chất ở nơi dễ thấy trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không có bảng nội quy về an toàn hóa chất trong nhà xưởng, kho chứa hóa chất; không treo, đặt bảng hướng dẫn cụ thể về quy trình thao tác an toàn ở vị trí dễ thấy, dễ đọc tại khu vực sản xuất có hóa chất nguy hiểm; sử dụng hệ thống chiếu sáng không đảm bảo đúng quy định, yêu cầu trong sản xuất, cất giữ hóa chất; sử dụng hệ thống thông gió tại nhà xưởng, kho chứa hóa chất không đáp ứng một trong các quy chuẩn, tiêu chuẩn về hệ thống thông gió; không có hệ thống thu lôi chống sét cho nhà xưởng, kho chứa hóa chất không nằm trong khu vực được chống sét an toàn; không có rãnh thu gom và thoát nước cho sàn nhà xưởng, kho chứa hoá chất.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Sử dụng bồn chứa ngoài trời không có đê bao hoặc không có các biện pháp kỹ thuật khác để ngăn chặn hóa chất thoát ra môi trường; không thực hiện kiểm định định kỳ đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình sử dụng.

Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Không duy trì các điều kiện về bảo quản an toàn hóa chất, an toàn phòng, chống cháy nổ tại kho chứa hóa chất đối với hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp; khu vực riêng trong kho hoặc kho riêng để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp; không chứa hóa chất trong kho để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực công nghiệp; không duy trì việc tồn trữ, bảo quản hóa chất ở một khu vực riêng trong kho hoặc kho riêng để tồn trữ, bảo quản đối với hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Không duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn, chất lượng sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận; không thực hiện đầy đủ thử nghiệm, đánh giá vật liệu nổ công nghiệp theo quy định của pháp luật; sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ không đúng chủng loại với giấy chứng nhận đủ điều kiện; không thực hiện việc phân loại, ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.

Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, giao nhiệm vụ; sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, tiền chất thuốc nổ; thay đổi về công nghệ, thiết bị, mặt bằng hoặc nhà xưởng sản xuất vật liệu nổ công nghiệp khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép; không thực hiện thử nghiệm hoặc cố tình làm sai lệch kết quả thử nghiệm vật liệu nổ công nghiệp.

Nghi định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2019. Nghị định này thay thế Nghị định số 163/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định vể xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công nghiệp; Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2013/NĐ-CP.

Điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung TP. Hải Phòng

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Quyết định 1114/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung thành phố Hải Phòng khu vực quận Dương Kinh và quận Đồ Sơn.

Cụ thể, điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009.

Theo đó, khu vực điều chỉnh cục bộ lô A70, A71 và A79 thuộc phường Tân Thành-quận Dương Kinh và phường Ngọc Hải, Ngọc Xuyên-quận Đồ Sơn: Không thay đổi các tính chất và các định hướng phát triển chung của khu vực; điều chỉnh vị trí, quy mô sân golf, đất khu đô thị mới kết hợp dịch vụ du lịch, bổ sung đất cây xanh cảnh quan khu vực cửa sông Lạch Tray; điều chỉnh giảm diện tích đất đô thị mới khoảng 42 ha và đất cây xanh công viên, sinh thái khoảng 61 ha; điều chỉnh tăng đất cây xanh thể dục thể thao (sân golf) khoảng 15 ha và đất hỗn hợp, dịch vụ (đất ở, đất thương mại dịch vụ du lịch...) khoảng 69 ha, đất công nghiệp khoảng 11 ha; bổ sung tăng khoảng 125 ha đất cây xanh sinh thái.

Khu vực điều chỉnh cục bộ lô A86 thuộc phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn: Điều chỉnh mở rộng ranh giới để quản lý phát triển các không gian mặt nước, bổ sung diện tích sân golf; tính chất, chức năng cơ bản tuân thủ theo điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chung năm 2011; giữ nguyên chức năng sử dụng đất và quy mô 350 ha theo điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chung năm 2011, bổ sung tăng 130 ha đất xây dựng sân golf từ đất mặt nước.

UBND thành phố Hải Phòng có trách nhiệm tổ chức công bố, công khai quy hoạch điều chỉnh theo quy định; tổ chức lập điều chỉnh quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết khu vực dự án liên quan đến điều chỉnh cục bộ, theo nguyên tắc đảm bảo kết nối các khu vực điều chỉnh quy hoạch với các khu chức năng khác không phá vỡ cấu trúc, định hướng phát triển không gian đô thị;...

Tháo gỡ khó khăn chồng lấn khu vực khai thác than cho TKV

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tình hình sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Trong thời gian qua, TKV đã có nhiều nỗ lực, cố gắng thực hiện các nhiệm vụ trong việc điều tra, đánh giá, thăm dò khai thác và chế biến than đáp ứng phần lớn nhu cầu về than của thị trường Việt Nam, cung ứng than cho các hộ tiêu thụ trong nước và đặc biệt là than cho sản xuất điện đáp ứng yêu cầu an ninh năng lượng quốc gia, ổn định đời sống cho người lao động, mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, từ sau khi thực hiện Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 có xét triển vọng đến 2030 (Quy hoạch 403 điều chỉnh) đến nay đã xuất hiện nhiều khó khăn, nhất là trong việc thăm dò, khai thác than tại các khu vực chồng lấn với diện tích đất rừng, các dự án đầu tư xây dựng của địa phương làm ảnh hưởng đến cung ứng than và nguy cơ thiếu than trong giai đoạn tới, nhất là giai đoạn 2020 đến năm 2030.

Để tháo gỡ vướng mắc nhằm tạo điều kiện cho TKV thực hiện được kế hoạch đề ra trong những năm tới, Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ: Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan xem xét, nghiên cứu để tháo gỡ khó khăn chồng lấn khu vực than theo Quy hoạch 403 với các quy hoạch trên địa bàn các tỉnh có tài nguyên than và chồng lấn với diện tích đất rừng trong vấn đề triển khai thăm dò, khai thác và chế biến than đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và địa phương.

Bộ Tài nguyên và Môi trường khẩn trương hướng dẫn TKV thực hiện các thủ tục cấp phép thăm dò, giấy phép khai thác, gia hạn giấy phép khai thác rút ngắn thời gian cấp phép, để TKV nhanh chóng triển khai các công việc theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia sớm tiếp nhận, thẩm định các báo cáo địa chất để làm cơ sở lập dự án. Trong đó, tập trung rà soát để cấp phép khai thác các dự án mới có công suất khai thác lớn như: mỏ Khe Chàm II&IV, -150m mỏ Mạo Khê,… nhằm sớm huy động sản lượng của các dự án. Gia hạn các giấy phép khai thác đã hết hạn theo Quy hoạch 403 đảm bảo khai thác tối đa trữ lượng than nhằm tránh tổn thất tài nguyên theo Luật Khoáng sản và đảm bảo hoạt động sản xuất liên tục của TKV.

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Quảng Ninh và TKV đề xuất tháo gỡ các vướng mắc theo Quy hoạch 403, để khai thác hết trữ lượng than còn lại thuộc ranh giới của các mỏ lộ thiên hiện nay, thay vì giới hạn thời gian theo Quy hoạch, nhất là các mỏ lộ thiên khu vực TP. Hạ Long-Quảng Ninh như: Các dự án khai thác lộ thiên Mỏ than Núi Béo, khai thác lộ thiên Công ty than Hà Lầm, Công ty than Hòn Gai… 

Ủy ban Quản lý vốn phối hợp với Bộ Công Thương chỉ đạo TKV xây dựng kế hoạch để phát triển mở rộng thị trường than, nhập khẩu than đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt là việc cung ứng than cho các nhà máy điện; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý lao động gắn với việc bố trí lao động phù hợp, đảm bảo tăng thu nhập cho người lao động; tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong tất cả các khâu, giảm việc tai nạn lao động trong khai thác hầm lò./.